Niềm hạnh phúc khi tiếp nhận tàu thành công
Ông trầm ngâm nhớ lại: "Sau cuộc tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Mỹ trực tiếp đổ quân vào Bến Tre, đẩy cường độ cuộc chiến tranh lên mức ác liệt hơn. Các tuyến đường vận chuyển vũ khí từ Trường Sơn, tuyến biên giới Campuchia bị địch đánh phá dữ dội bằng mọi hình thức: gián điệp, phục kích, càn quét, bom pháo... Về phía ta, vũ khí đạn dược ngày càng khan hiếm, nhu cầu của chiến trường vô cùng bức xúc. Thực hiện chủ trương trương của Trung ương, Quân khu 8 khẩn trương cho tổ chức lại bến bãi để tiếp nhận vũ khí. Quân khu tập hợp các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, chiến sĩ bến A101 Đoàn 962, bổ sung thêm lực lượng và đưa về Bến Tre tổ chức lại bến tiếp nhận.
Cánh Quân báo chúng tôi lúc đó được bổ sung những người còn rất trẻ, độ 16, 17 tuổi. Phương tiện ban đầu chỉ có 2 máy radio bốn band và hai máy PRC 25. Tôi được điều từ Bộ Tư lệnh tiền phương ở chiến trường Mỹ Tho - Gò Công về Bình Đại. Chúng tôi vừa làm vừa đào tạo thêm lính mới. Quân báo cánh Bình Đại được Ban chỉ huy Đoàn giao nhiệm vụ vừa nắm địch trên bộ và trên biển từ Xoài Rạp đến cửa Cổ Chiên - Ba Động để phục vụ cho tàu đưa hàng vào...

Ông Dương Thanh Hùng (giữa), Trưởng ban Quân báo Tiểu đoàn 518 và bến thời kỳ 1973 - 1975, cùng đồng đội Năm Hồng (bìa trái), Năm Thanh (bìa phải)
Do tình hình quá đặc biệt nên nhiệm vụ của Quân báo hết sức nặng nề, tưởng chừng ngoài tầm tay. Chúng tôi họp Chi bộ bàn bạc, thảo luận kỹ thuật rồi ra nghị quyết: "Bằng bất cứ giá nào cũng phải tổ chức nắm được mọi hoạt động của địch trên biển, ven bờ, trên không... Dùng mọi cách tìm biết được quy luật, nhược điểm của địch, phục vụ công tác tiếp nhận trung chuyển an toàn. Có hàng mới đánh được địch, có đánh địch mới phá được thế bao vây, ngăn chặn của chúng. Vũ khí đạn dược quý hơn máu, hơn cơm". Quan điểm đó đã được nhất trí trong Chi bộ và từ Chi bộ ra đơn vị, anh em chiến sĩ, cán bộ đồng tâm hiệp lực. Người và phương tiện thiếu nhưng thường xuyên thay phiên trực 24/24 giờ. Bộ phận còn lại phải lo tự lực bảo đảm lương thực và giấy viết ghi chép các thông tin đã nắm của cả Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa.
Biện pháp nắm địch của trinh sát kỹ thuật là theo dõi bằng vô tuyến điện, trinh sát vũ trang, trinh sát Quân báo nhân dân, cộng với sự chi viện của Quân báo quân khu và Bến Tre. Yêu cầu đặt ra cho Quân báo trong thời gian ngắn phải bằng mọi cách nắm được cơ bản vùng III hải quân (từ Vũng Tàu đến Trà Vinh, Bến Tre...), hải đoàn 3, khu vực hoạt động của tàu và bọn hải thuyền.
Phải hiểu cho được khi gió lặng, biển êm chúng hoạt động ở khu vực nào và lúc biển động chúng núp ở đâu, tọa độ bao nhiêu. Mặc dù địch thường xuyên thay đổi mã hóa và tần số, kể cả bộ binh lẫn hải quân. Từ khóa đơn giản bộ 2, bộ 3 đến bộ 5, nhưng do hiệu thính viên của địch chủ quan, sơ hở và mỗi tên có một nét đặc biệt khi lên máy. Ta đã tìm được quy luật, nghiên cứu khai thác những sơ hở của chúng để đạt được kết quả theo ý định. Có thể nói, khi nghe tiếng ma-nip, anh em biết ngay tên hiệu thính viên đó ở tàu nào, hoặc lực lượng bảo an, chi khu, đồn bót liên lạc bằng máy PRC25, lên máy là biết tên đó ở đâu.
Về lực lượng Quân báo nhân dân, sau khi tìm hiểu, nghiên cứu nắm lai lịch gia đình, chọn lọc những gia đình Cách mạng hoặc quan hệ tốt với Cách mạng đang có điều kiện nắm địch. Ta tổ chức 5 tàu đánh cá của ngư dân đang sống và làm ăn hợp pháp với địch. Ta cũng tổ chức được 18 cơ sở lọt vào vị trí xung yếu. Vừa kết hợp trinh sát kỹ thuật nắm địch và qua cơ sở tin tức Nhân dân, tin Quân báo địa phương... phối hợp các nguồn thành tin chính xác. Nhờ cách trên, chỉ trong thời gian ngắn, chúng tôi đã thu được nhiều nguồn tin quan trọng làm tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy để có phương hướng cụ thể tiếp nhận tàu, bảo vệ bến bãi...".

Ông Vũ Hữu Suôn - Thuyền phó tàu 176 thuộc đoàn
tàu không số Đoàn 125 chở vũ khí từ Bắc vào Bến Tre (bìa trái) cùng ông Dương Thanh Hùng (thứ hai từ trái qua) và đồng đội trong đơn vị trinh sát kỹ thuật bảo vệ bến
Nhu cầu phục vụ chiến trường ngày càng cấp bách. Qua thời gian tìm hiểu, nắm chắc các quy luật hoạt động, nhược điểm của địch, Bộ Tư lệnh Hải quân cương quyết tổ chức tàu, đưa vũ khí vào Nam theo chỉ thị của Trung ương. Ông Dương Thanh Hùng kể niềm vui vô bờ khi được phục vụ và tiếp nhận tàu thành công: "Nhận được tin này chúng tôi nửa mừng nửa lo. Mừng vì chiến trường sẽ có thêm súng đạn, lo là lo dốc toàn lực lượng ra bám địch trên các hệ thống thông tin liên lạc vùng III hải đoàn, hải thuyền... Trong khi đó, cơn bão số 6 đã giúp ta. Bão to, gió lớn, sóng dữ... hải quân, hải thuyền chui vào núp sóng, ta nắm chắc đưa thuyền ra đón. Bắt được tín hiệu dẫn tàu vận tải vào bến Rạch Cây Dừa - Thạnh Phú an toàn.
Suốt đêm đó, đơn vị dốc toàn bộ lực lượng bốc hàng. Hết đêm mà vẫn chưa hết hàng, tàu phải trú lại một ngày. Thật là "một ngày dài hơn thế kỷ”. Nó dài hơn cả trăm năm vì sự căng thẳng thần kinh và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ bến, trong đó nặng nề và căng thẳng nhất là các chiến sĩ Quân báo. Chúng tôi phải bám địch không để lọt một chi tiết nhỏ, dù đã phải thức nhiều đêm liên tục. Sau khi con tàu ra đi, tất cả mọi người thở phào nhẹ nhõm, mặc dù nhiệm vụ trước mắt còn rất nặng nề và nguy hiểm. Sự mệt mỏi sớm tan biến vì hàng trăm tấn vũ khí đã được vào bờ an toàn. Sau trận này, đơn vị Quân báo chúng tôi được tặng bằng khen tập thể và nhiều cá nhân".
Đau đớn khi tàu bị nạn
"Có chuyến thành công nhưng không tránh được thất bại. Thất bại đau đớn lắm!", ông Dương Thanh Hùng nghẹn ngào. Giọng ông trầm hẳn xuống khi kể về nỗi đau thất bại: "Tin báo địch nghi ngờ khi chiến trường vẫn hoạt động mạnh, địch bị đánh khắp nơi. Vũ khí ở đâu? Chắc chắn từ những con tàu từ miền Bắc vượt biển vào Nam. Chúng biết rõ điều đó nhưng chưa tìm ra tọa độ cụ thể nào. Cay cú, địch tăng cường truy tìm nhưng không phát hiện mục tiêu trên biển. Tình hình này Ban chỉ huy bến đã báo cáo hàng ngày về Bộ Tư lệnh Hải quân, nhưng do nhu cầu bức xúc của chiến trường nên tàu tiếp tục vào Nam.
Cuối tháng 11/1970, lợi dụng cơn bão số 8, tàu 176 đã đến một đảo hoang ở hải phận Côn Đảo. Ta ngụy trang lúc tàu Nhật, lúc tàu Đài Loan. Khi tàu vào trong hải phận quốc tế gặp bão lớn cũng là lúc trinh sát kỹ thuật nhận được tin bọn khu trục hạm báo về vùng III duyên hải có tàu lạ. Khi nguồn tin đã phối kiểm chính xác, chúng tôi kịp báo về trên, "con tàu lạ” được điều trở ra. Trên đường ra hải phận quốc tế hướng về Philippines để đánh lạc hướng sự chú ý của địch nhưng bão lớn không thể ra được. Cán bộ, chiến sĩ trên tàu thống nhất quyết tâm và xin ý kiến của trên, lợi dụng bão lớn cho tàu quay trở lại. Khi vào đến hải phận Việt Nam, địch lại tiếp tục phát hiện.

Ông Trần Thanh Hồng - Trinh sát kỹ thuật Tiểu đoàn 518 bảo vệ bến kể về gia đình và quá trình công tác lúc mới 14 tuổi
Trinh sát kỹ thuật đã nắm chính xác hải quân vùng III điều 4 tuần dương hạm, 12 PCF (loại tàu tấn công) và máy bay. Địch tăng cường 4 khu trục hạm M50 hình thành thế trận bao vây từ Cửa Đại đến cửa Cổ Chiên. Ban chỉ huy bến báo cáo khẩn cấp về trên, nhưng không biết lý do gì tàu không nhận được tin, do đó tàu tiếp tục vào bờ. Chúng tôi lòng nóng như lửa đốt khi biết chắc đồng chí, đồng đội mình sẽ phải hy sinh; vũ khí, đạn dược sẽ bị mất, tổn thất rất lớn.
Các đồng chí trong Ban chỉ huy bến, đội trinh sát kỹ thuật hết nghe ngóng đến nhìn trời thầm mong cho tàu ta thoát khỏi vòng vây của địch (về sau chúng tôi mới được biết để bảo đảm bí mật tuyệt đối, bến không được liên hệ trực tiếp với tàu mà phải qua Bộ Tư lệnh Hải quân). Khi cách đất liền khoảng 35 hải lý, phát hiện địch bao vây, tàu ta cố chạy ra hải phận quốc tế nhưng không còn kịp. Vào một đêm mưa bão đầy trời, địch dùng sức mạnh hải quân, không quân siết chặt vòng vây nổ súng tấn công. Trận chiến đấu quyết liệt hàng giờ diễn ra trên biển. Ta bắn hỏng một tàu PCF của địch và bắn hư một số chiếc khác. Địch điều thêm tàu và một số máy bay các loại, thả pháo sáng, tăng cường sức mạnh tiến công, đồng thời đưa lực lượng Sư đoàn 7 bộ binh đổ quân xuống bờ biển Thạnh Phú, Trà Vinh. Trước tình huống hiểm nghèo, tàu trúng đạn, nước tràn vào.
Một số đồng chí bị thương và hy sinh. Ban chỉ huy quyết định tất cả thả phao rời tàu. Thuyền trưởng điều khiển hệ thống tự hủy tàu với tấm lòng can trường, dũng cảm. Địch không lấy được vũ khí của ta và con tàu vĩnh viễn nằm dưới lòng biển mênh mông của Tổ quốc. Đêm đó, đơn vị tổ chức lực lượng bố trí đón rước các đồng chí sống sót vào bờ. Trong lúc Sư đoàn 7 bộ binh của địch đổ quân càn quét ven biển để truy kích các chiến sĩ của ta; cán bộ, thủy thủ đoàn vừa đối diện tránh né địch vừa chống chọi với sóng to gió lớn, suốt mấy ngày đêm lênh đênh trên biển. Một số đồng chí tấp vào bờ ở biển Thạnh Phú, một số vào bờ biển Bình Đại. Có hai đồng chí không may bơi lạc vào bờ biển Ba Tri, rơi vào tay địch. Bị đánh đập, tra tấn dã man, các chiến sĩ tàu không số không khai báo nửa lời. Không khai thác được gì ở các anh, chúng đem các anh ra mổ mật, moi gan.
Trận này là một tổn thất lớn. Nhiều tấn vũ khí bị chôn sâu dưới lòng biển. Ta hy sinh 11 người, bị thương 2 đồng chí, địch bắt 2 đồng chí. Một số đồng chí về được căn cứ gồm thuyền trưởng, chính trị viên và một thuyền phó. Các đồng chí còn đưa được hai tử sĩ vào bờ. Con tàu đã nằm sâu dưới lòng biển quê hương. Một số đồng chí đã vĩnh viễn ra đi nhưng trong lòng của cán bộ, chiến sĩ bến ở Bến Tre và Nhân dân Thạnh Phú vẫn khắc sâu tinh thần quả cảm, kiên cường của các chiến sĩ Đoàn 125 Hải quân. Từ trận ấy, vùng biển Bến Tre vắng bóng những con tàu không số...".