Khai thông điểm nghẽn
Trước hết, điểm nghẽn lớn nhất nằm ở tư duy quản lý. Trong nhiều năm, công viên được quản lý theo logic bảo trì - giữ gìn - bảo đảm trật tự. Cách tiếp cận này cần thiết nhưng chưa đủ. Khi công viên được xác định là hạ tầng văn hóa, Ban quản lý không thể chỉ làm nhiệm vụ trông coi cây xanh, mà phải trở thành đơn vị điều phối nội dung, xây dựng chương trình hoạt động định kỳ, kết nối cộng đồng và doanh nghiệp. Muốn vậy, phải đào tạo lại đội ngũ quản lý theo hướng chuyên nghiệp hóa, bổ sung năng lực tổ chức sự kiện, truyền thông, vận hành mô hình đối tác công - tư.
Điểm nghẽn thứ hai nằm ở cấu trúc thể chế phân tán. Hiện nay, công viên thuộc nhiều đơn vị khác nhau: công ty dịch vụ công ích, ủy ban quận, các sở chuyên ngành. Nếu mỗi nơi vận hành theo một cách riêng, không thể hình thành một mạng lưới công viên chuyên đề mang bản sắc chung của Thành phố. Vì vậy, cần một trung tâm điều phối chuyên đề công viên cấp thành phố, chịu trách nhiệm xây dựng khung chủ đề, bộ chỉ số đánh giá và cơ chế tài chính thống nhất. Đơn vị này không tước quyền quản lý đất đai của địa phương, nhưng giữ vai trò định hướng nội dung và đánh giá hiệu quả phát triển con người.

Buổi sinh hoạt của các em học sinh tại Công viên Tao Đàn
Điểm nghẽn thứ ba là tài chính. Ngân sách công hiện chủ yếu dành cho duy tu và bảo dưỡng. Nếu muốn phát triển không gian ngầm - như thư viện dưới lòng đất, trung tâm thể thao trong nhà, phòng triển lãm, không gian sáng tạo - cần nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn. Nhà nước phải giữ vai trò kiến tạo và dẫn dắt, đầu tư hạ tầng lõi, bảo đảm tiêu chuẩn công cộng và kiểm soát chất lượng. Song song đó, khu vực tư nhân cần được khuyến khích tham gia vận hành dịch vụ văn hóa - thể thao - giáo dục theo mô hình đa trách nhiệm: có lợi nhuận hợp lý, nhưng phải cam kết tỷ lệ tái đầu tư cho cộng đồng và tuân thủ chuẩn văn hóa. Khi kinh tế Nhà nước giữ vai trò định hướng và kinh tế tư nhân tham gia sáng tạo, công viên mới trở thành không gian hợp tác thay vì gánh nặng ngân sách.
Một điểm nghẽn khác là nguy cơ thương mại hóa quá mức. Khi công viên được nâng cấp, giá trị đất đai xung quanh tăng lên, áp lực khai thác thương mại sẽ lớn. Nếu không có quy định rõ về tỷ lệ diện tích dành cho thiết chế văn hóa, giới hạn mật độ dịch vụ kinh doanh và cơ chế công khai doanh thu tái đầu tư, công viên dễ bị biến dạng thành khu thương mại trá hình. Vì vậy, chuyên đề hóa phải gắn chặt với nguyên tắc: thiết chế văn hóa là lõi, dịch vụ kinh tế là phương tiện hỗ trợ, không đảo ngược vai trò.
Khai thông các điểm nghẽn ấy, Thành phố có thể đặt ra một đích đến cụ thể và đo lường được. Trong vòng 10 năm, diện tích cây xanh công cộng bình quân đầu người cần nâng lên ít nhất 3-4m²/người. Song song đó, 20-30 công viên trọng điểm được chuyên đề hóa rõ ràng, có chương trình hoạt động định kỳ quanh năm. Mỗi công viên lớn phấn đấu thu hút trung bình 3.000-5.000 lượt người/ngày cuối tuần và duy trì tỷ lệ sử dụng ổn định trong tuần. Tối thiểu 50% công viên chuyên đề hình thành câu lạc bộ cộng đồng hoạt động liên tục trên 6 tháng. Doanh thu xã hội hóa đạt mức đủ để tái đầu tư ít nhất 30-40% chi phí vận hành nội dung.
Góp phần hình thành bản sắc đô thị
Về tác động xã hội, mục tiêu không chỉ là tăng số người đến công viên, mà là thay đổi hành vi sống. Tỷ lệ thanh, thiếu niên tham gia hoạt động thể thao - nghệ thuật cộng đồng tăng đều hằng năm. Người cao tuổi có không gian sinh hoạt định kỳ, giảm cảm giác cô lập trong đô thị đông đúc. Trẻ em được tiếp cận các chương trình trải nghiệm ngoài trời thay vì lệ thuộc hoàn toàn vào thiết bị số. Khi công viên trở thành nơi học hỏi, rèn luyện và tương tác, nó góp phần nâng cao sức khỏe tinh thần và năng lực xã hội của cư dân.
Về kinh tế, nếu 20 công viên trọng điểm hình thành hệ sinh thái dịch vụ văn hóa - thể thao - sáng tạo với doanh thu trung bình 30-50 tỷ đồng mỗi năm, tổng quy mô có thể đạt 600-1.000 tỷ đồng/năm. Quan trọng hơn là hàng nghìn việc làm trong lĩnh vực huấn luyện thể thao, tổ chức sự kiện, nghệ thuật cảnh quan, ẩm thực văn hóa, giáo dục trải nghiệm được tạo ra. Đây là nguồn tăng trưởng mềm, bền vững và lan tỏa rộng.

Công viên Tao Đàn là địa điểm sinh hoạt của học sinh, sinh viên
Đích đến cuối cùng không phải là con số doanh thu, mà là một bản đồ bản sắc công viên toàn Thành phố. Mỗi công viên mang một chủ đề rõ ràng: hoa và cảnh quan sinh thái, thể thao thanh niên, thiếu nhi sáng tạo, văn hóa ẩm thực, cộng đồng người cao tuổi, sinh thái ven sông. Khi người dân nhắc đến công viên bằng nội dung và giá trị chứ không chỉ bằng địa danh, bản sắc đô thị bắt đầu hình thành. Khi đó, bản đồ công viên chính là bản đồ phát triển con người.
Khi bàn về chuyên đề hóa công viên, nếu chỉ dừng ở hiệu quả sử dụng không gian hay doanh thu dịch vụ, thì đó vẫn là cách nhìn cục bộ. Tác động thực sự của chiến lược này nằm ở khả năng tái định hình hướng phát triển của toàn đô thị. Đối với TPHCM, nơi áp lực dân số, mật độ xây dựng và cạnh tranh vùng ngày càng cao, chuyên đề hóa công viên không phải là một dự án cảnh quan, mà là một lựa chọn chiến lược về mô hình phát triển.
Thứ nhất, chiến lược này làm thay đổi cấu trúc tăng trưởng của Thành phố. Trong nhiều thập niên, động lực chính của tăng trưởng đến từ bất động sản, hạ tầng giao thông và mở rộng không gian xây dựng. Mô hình này tạo ra quy mô kinh tế lớn nhưng đồng thời làm gia tăng áp lực lên môi trường sống và hạ tầng xã hội. Khi công viên được chuyển hóa thành hạ tầng văn hóa - sáng tạo - thể thao - giáo dục cộng đồng, Thành phố bắt đầu chuyển một phần trọng tâm tăng trưởng sang kinh tế văn hóa và dịch vụ chất lượng cao. Đây là dạng tăng trưởng dựa trên chất lượng sống và năng lực con người, thay vì chỉ dựa trên diện tích sàn xây dựng.
Thứ hai, chuyên đề hóa công viên tái cấu trúc dòng người và dòng giá trị trong đô thị. Mỗi công viên chuyên đề trở thành "cực phát triển mềm" có khả năng hút cư dân theo nội dung hoạt động chứ không chỉ theo vị trí địa lý. Điều này giúp phân bổ lại mật độ sinh hoạt khỏi khu trung tâm truyền thống, giảm áp lực lên các không gian quá tải, đồng thời kích hoạt kinh tế phụ trợ ở các quận ven và khu dân cư mới.
Thứ ba, chiến lược này tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của Thành phố trong khu vực. Trong bối cảnh các đô thị Châu Á cạnh tranh mạnh về tài chính, công nghệ và hạ tầng cao tầng, lợi thế dài hạn ngày càng nằm ở chất lượng môi trường sống và hệ sinh thái văn hóa. Một thành phố có mạng lưới công viên chuyên đề đa dạng - từ thể thao thanh niên, hoa và cảnh quan, thiếu nhi sáng tạo, đến không gian cộng đồng người cao tuổi - sẽ tạo ra hình ảnh một đô thị nhân văn, giàu bản sắc và quan tâm đến phát triển con người. Điều này thu hút nhân lực chất lượng cao, doanh nghiệp sáng tạo và du khách dài ngày.
Thứ tư, chuyên đề hóa góp phần hình thành bản sắc đô thị rõ nét. Lâu nay, nhiều công viên được biết đến chủ yếu như địa danh hành chính. Khi mỗi công viên mang một chủ đề và câu chuyện riêng, bản sắc không gian công cộng được định danh rõ ràng. Người dân không chỉ "đi công viên", mà lựa chọn "đi công viên thể thao", "đi công viên hoa", "đi công viên nghệ thuật cộng đồng". Bản sắc được xây dựng từ thói quen sinh hoạt hằng tuần của cư dân.
Thứ năm, chiến lược này củng cố định hướng phát triển con người làm trung tâm. Nếu mục tiêu của thành phố là nâng diện tích cây xanh bình quân đầu người lên 3-4m²/người trong một thập niên tới, thì song song với đó phải nâng chất lượng sử dụng. Chỉ khi mỗi mét vuông công viên tạo ra giá trị về sức khỏe, thẩm mỹ, kỹ năng và gắn kết xã hội, chỉ số phát triển con người đô thị mới được cải thiện thực chất. Tỷ lệ thanh, thiếu niên tham gia thể thao cộng đồng tăng, số lượng chương trình giáo dục trải nghiệm ngoài trời cho trẻ em tăng, mức độ gắn kết của người cao tuổi với cộng đồng được cải thiện - đó mới là những thước đo cho sức khỏe xã hội.
Cuối cùng, tác động tổng thể của chuyên đề hóa công viên là thay đổi hình dung về tương lai đô thị. Thành phố không còn được định nghĩa chỉ bằng chiều cao tòa nhà hay quy mô trung tâm thương mại, mà bằng chất lượng không gian công cộng và mức độ phong phú của đời sống văn hóa. Khi mạng lưới công viên chuyên đề được hình thành, bản đồ công viên đồng thời là bản đồ phát triển con người. Mỗi điểm xanh trở thành trung tâm nuôi dưỡng năng lực, sáng tạo và trách nhiệm cộng đồng.
Nếu nhìn TPHCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu như một không gian đại đô thị liên kết, thì cấu trúc mảng xanh sẽ mang tính bổ sung lẫn nhau. TPHCM đóng vai trò trung tâm tài chính, dịch vụ và có mật độ xây dựng rất cao nên thiếu công viên. Bình Dương lại phát triển mạnh các đô thị mới với nhiều không gian xanh quy hoạch. Trong khi đó, Bà Rịa - Vũng Tàu cung cấp các hệ sinh thái tự nhiên quy mô lớn, từ rừng phòng hộ đến không gian biển. Khi cộng gộp 3 khu vực này, tỉ lệ mảng xanh trung bình của toàn vùng có thể đạt khoảng 5-8 m²/người, cao hơn nhiều so với nội đô TPHCM hiện nay.
THUẬN NAM - DUY LUÂN - LÊ MINH