Kỷ niệm 35 năm ngày quốc tế người cao tuổi (01/10/1991 - 01/10/2026):

Tạo cơ hội để người cao tuổi tiếp tục cống hiến

Thứ Sáu, 02/10/2026 08:50

|

(CATP) Nhân ngày Quốc tế Người cao tuổi (01/10), một câu hỏi đáng được đặt ra không chỉ là xã hội phải chăm sóc người cao tuổi như thế nào, mà còn là xã hội đang tạo ra bao nhiêu cơ hội để người cao tuổi tiếp tục làm việc, sáng tạo, kinh doanh và cống hiến?

Thách thức trong xu thế già hóa dân số

Trong nhiều năm, khi nói về người cao tuổi, chúng ta thường nghĩ đến lương hưu, bảo trợ xã hội, khám chữa bệnh, nhà dưỡng lão, chăm sóc tại cộng đồng và những chính sách bảo vệ. Những chính sách ấy cần thiết và nhân văn. Nhưng nếu chỉ nhìn người cao tuổi như một nhóm dân cư cần được chăm sóc, chúng ta mới nhìn thấy một nửa của vấn đề.

Nửa còn lại là một nguồn lực rất lớn đang hiện hữu trong xã hội: nguồn lực của những con người đã tích lũy hàng chục năm kinh nghiệm, tri thức, quan hệ xã hội, vốn tài chính, kỹ năng nghề nghiệp và sự hiểu biết về cuộc sống nhưng đang dần bị loại khỏi hệ thống kinh tế chỉ vì tuổi tác. Đây chính là lúc cần thay đổi cách nhìn: từ "kinh tế chăm sóc người cao tuổi" sang "nền kinh tế cùng người cao tuổi tạo ra giá trị”; từ tư duy "việc làm cho người cao tuổi" sang một khái niệm rộng hơn là khởi nghiệp cho người cao tuổi và nền "kinh tế bạc" (khái niệm dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động, sản phẩm, dịch vụ được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi).

Việt Nam không còn đứng trước một xu hướng xa xôi. Già hóa dân số đang diễn ra ngay trong hiện tại. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, Việt Nam có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên, tăng 2,8 triệu người so với năm 2019 và tăng 4,7 triệu người so với năm 2014. Chỉ số già hóa đạt 60,2%, tăng 11,4 điểm phần trăm so với năm 2019. Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người.

Nhân viên y tế kiểm tra sức khỏe cho người cao tuổi

Các nguồn của Bộ Y tế trong năm 2026 cho thấy, quy mô người cao tuổi hiện đã ở mức gần 17 triệu người, trong khi đến năm 2030 có thể đạt khoảng 18 triệu người. Đây là một sự thay đổi có ý nghĩa kinh tế rất lớn. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2024 đạt khoảng 74,6-74,7 tuổi, trong khi tuổi thọ khỏe mạnh thấp hơn đáng kể. Điều đó có nghĩa là một người bước vào tuổi 60 không đồng nghĩa với việc họ lập tức trở thành người mất khả năng lao động hay mất khả năng đóng góp.

Ngược lại, trong khoảng thời gian từ 60 đến 70, thậm chí 75 tuổi vẫn có một bộ phận rất lớn những người có sức khỏe, chuyên môn, quan hệ xã hội và năng lực tạo ra giá trị. Tổng cục Thống kê cũng đã lưu ý rằng nhiều người từ 60 đến 75 tuổi vẫn có sức khỏe và khả năng làm việc tốt, đặc biệt là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Nhưng nền kinh tế của chúng ta vẫn chưa thực sự được thiết kế để sử dụng nguồn lực ấy.

Một kỹ sư 62 tuổi, một bác sĩ 65 tuổi, một giáo viên 67 tuổi, một người thợ lành nghề 70 tuổi, một doanh nhân 63 tuổi hay một người nông dân 68 tuổi có thể còn rất nhiều thứ để trao cho xã hội. Nhưng hệ thống việc làm hiện đại thường vận hành theo một logic rất đơn giản: tuổi càng cao, cơ hội tham gia thị trường lao động càng giảm.

Đó là một nghịch lý. Chúng ta kéo dài tuổi thọ nhưng lại chưa kéo dài tương xứng tuổi tạo ra giá trị. Tuổi nghỉ hưu không nên đồng nghĩa với tuổi kết thúc đóng góp. Luật Người cao tuổi đã xác định khá rõ tinh thần này. Người cao tuổi là công dân từ đủ 60 tuổi trở lên và có quyền được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khỏe, nghề nghiệp và các điều kiện khác để phát huy vai trò của mình. Nhà nước cũng có trách nhiệm lồng ghép chính sách người cao tuổi vào chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Như vậy, về nguyên tắc, pháp luật Việt Nam không xem người cao tuổi đơn thuần là đối tượng thụ hưởng. Vấn đề nằm ở chỗ cơ chế kinh tế để biến nguyên tắc đó thành cơ hội vẫn còn rất hạn chế. Ngày 21/02/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 383/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Cuối năm 2025, Chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị 35/CT-TTg về tăng cường thực hiện công tác người cao tuổi thích ứng với già hóa dân số. Đây là những bước tiến quan trọng trong việc chuyển từ ứng phó sang chủ động thích ứng với xã hội già hóa.

Nguồn vốn lớn hơn là vốn con người

Một người đã làm một nghề 30-40 năm có thể sở hữu một lượng tri thức mà không trường đại học nào có thể cung cấp hoàn toàn. Họ biết khách hàng nghĩ gì, một sản phẩm thất bại vì đâu, một vùng đất vận hành như thế nào, một nghề được truyền lại ra sao, một doanh nghiệp sống được bằng cách nào, một cộng đồng phản ứng thế nào trước thay đổi. Đó là loại tri thức thường không nằm trong sách mà nằm trong kinh nghiệm.

Nếu một người trẻ có năng lượng và khả năng thích ứng công nghệ, thì người lớn tuổi có thể có kinh nghiệm, độ sâu và mạng lưới quan hệ. Khi hai nguồn lực này kết hợp, giá trị tạo ra có thể lớn hơn rất nhiều so với việc mỗi thế hệ hoạt động riêng rẽ.

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng ghi nhận người lao động lớn tuổi có thể tạo ra giá trị cho doanh nghiệp không chỉ bằng kinh nghiệm của chính họ mà còn thông qua sự bổ trợ về kỹ năng giữa các thế hệ. Một nghiên cứu của OECD được công bố trong bối cảnh phát triển các đô thị cho mọi lứa tuổi ước tính việc xây dựng lực lượng lao động đa thế hệ và tạo thêm cơ hội cho người lao động lớn tuổi có thể làm tăng GDP bình quân đầu người tới 19% trong 30 năm trong các nền kinh tế OECD được nghiên cứu.

Điều đó gợi mở một nguyên tắc rất quan trọng: Không phải xã hội càng già thì nền kinh tế càng phải nhỏ lại. Xã hội già buộc nền kinh tế phải thông minh hơn trong cách sử dụng con người. Khởi nghiệp ở tuổi 60 khác với khởi nghiệp ở tuổi 25. Ở tuổi 25, người ta có thể chấp nhận thất bại nhiều lần để tìm ra mô hình kinh doanh. Ở tuổi 65, mục tiêu hợp lý hơn có thể là sử dụng tri thức và tài sản đã tích lũy để tạo ra thu nhập, ý nghĩa sống và giá trị xã hội với mức rủi ro phù hợp.

Vì vậy, Việt Nam cần xây dựng một phổ hoạt động rộng hơn: từ việc làm bán thời gian, tư vấn chuyên môn, kinh doanh hộ gia đình, doanh nghiệp siêu nhỏ, hợp tác xã, kinh doanh trực tuyến, nhượng quyền, đầu tư nhỏ, cố vấn doanh nghiệp trẻ cho đến thành lập doanh nghiệp.

Đây phải là một hệ sinh thái chứ không phải một phong trào. Cần xây dựng một "hệ sinh thái khởi nghiệp bạc". Việt Nam đã có hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho thanh niên, sinh viên và doanh nghiệp trẻ. Nhưng một hệ sinh thái tương tự dành cho người cao tuổi gần như chưa hình thành đầy đủ. Trước hết, cần thay đổi cách xác định đối tượng. Không nên coi "60 tuổi" là một ranh giới kinh tế. Chính sách cần phân loại theo năng lực, sức khỏe, kỹ năng và nhu cầu, thay vì chỉ theo tuổi. Một người 61 tuổi và một người 81 tuổi rõ ràng không thể đặt vào cùng một mô hình.

Thứ hai, cần hình thành các trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cho người cao tuổi, có thể đặt tại các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, khu công nghệ, hội người cao tuổi hoặc các không gian cộng đồng. Những nơi này không nhất thiết phải dạy người cao tuổi cách "pitch deck" hay những thuật ngữ startup xa lạ. Điều họ cần là biến kinh nghiệm thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh.

Thứ ba, phải có chương trình đào tạo số dành riêng cho người cao tuổi có ý định kinh doanh. AI, thương mại điện tử, thanh toán số, marketing số, quản trị tài chính, pháp luật kinh doanh và an toàn thông tin có thể giúp một người 65 tuổi tiếp tục kinh doanh mà không cần quay trở lại mô hình lao động nặng nhọc.

Thứ tư, cần hình thành quỹ tài chính vi mô và cơ chế tín dụng phù hợp. Không phải tất cả dự án của người cao tuổi đều cần hàng tỷ đồng. Nhiều mô hình có thể bắt đầu từ vài chục đến vài trăm triệu đồng. Cái cần thiết là vốn nhỏ, thủ tục đơn giản, tư vấn tốt và cơ chế quản trị rủi ro.

Thứ năm, phải phát triển mô hình khởi nghiệp liên thế hệ. Đây có thể là hướng đặc biệt phù hợp với Việt Nam. Người trẻ cung cấp công nghệ, thiết kế, marketing, năng lượng và khả năng tiếp cận thị trường mới. Người cao tuổi cung cấp kinh nghiệm nghề nghiệp, kiến thức thị trường, uy tín, quan hệ xã hội và khả năng cố vấn. Nhà nước cung cấp thể chế, hạ tầng và cơ chế tài chính. Doanh nghiệp cung cấp thị trường. Trường đại học cung cấp nghiên cứu. Khi đó, khởi nghiệp bạc không còn là câu chuyện của riêng người cao tuổi mà trở thành một cơ chế kết nối các thế hệ trong nền kinh tế.

Một trong những sai lầm phổ biến là khi nói đến "kinh tế bạc", chúng ta lập tức nghĩ đến việc bán sản phẩm cho người cao tuổi. Đó mới chỉ là phía cầu. Phía cung mới là điều quan trọng hơn. Nếu Việt Nam có khoảng 18 triệu người từ 60 tuổi trở lên vào năm 2030, đó không chỉ là 18 triệu người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nhà ở, giao thông, du lịch và dịch vụ. Đó còn là 18 triệu con người với những khả năng khác nhau để tham gia tạo ra sản phẩm, dịch vụ, tri thức và giá trị xã hội.

Vì vậy, Việt Nam có thể cần tiến thêm một bước: xây dựng một Chương trình quốc gia về "kinh tế bạc" và khởi nghiệp người cao tuổi, gắn với Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn 2045. Chương trình ấy có thể tập trung vào năm việc: xây dựng dữ liệu về năng lực và nhu cầu kinh tế của người cao tuổi; đào tạo kỹ năng số và kinh doanh suốt đời; hình thành quỹ tín dụng và hỗ trợ khởi nghiệp quy mô nhỏ; xây dựng mạng lưới cố vấn và khởi nghiệp liên thế hệ; đồng thời tạo thị trường thông qua mua sắm công, đặt hàng dịch vụ xã hội và các chương trình đổi mới sáng tạo phục vụ xã hội già hóa.

Bình luận (0)

Lên đầu trang