Nghịch lý dự án nhà ở thuần Việt mang tên "Tây": Tâm lý "sính ngoại" (Bài 1)

Thứ Ba, 13/10/2026 08:02

|

(CATP) Cả nước có khoảng 6.000 tòa nhà chung cư, trong đó tập trung nhiều nhất là tại các đô thị, thành phố lớn, có lượng cư dân cao. Theo chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng, có hơn 70% khu chung cư mang tên nước ngoài. Thực trạng này diễn ra từ lâu và được xem như là... "mốt thời thượng"? Chung cư mang tên nước ngoài, có khó khăn hay thuận lợi như thế nào...?

Một ông chủ của tập đoàn chuyên xây dựng các dự án nhà ở cao cấp, thổ lộ: "Chung cư phải đặt tên nước ngoài, thiết kế theo lối kiến trúc ngoại, xài hàng nội thất ngoại nên mình mới bán được theo giá.. ngoại (giá cao – PV)". Cũng theo ông chủ này, ở TPHCM, khách hàng mua sản phẩm của công ty ông hầu hết là người giàu, thậm chí có cả người nước ngoài, nên tên chung cư cũng phải mang tên nước ngoài thì mới "kêu", mới xứng tiền (!?)

Giữ gìn bản sắc trong hội nhập

Trao đổi xung quanh về vấn đề khá "nhạy cảm và nóng" này, Tiến sĩ Lê Văn Ngọc, nhà khoa học, giảng viên, nhà thiết kế kiến trúc xây dựng, người từng làm trong lĩnh vực kiến trúc đô thị hiện đại tại Bình Dương cũ, TPHCM và các tỉnh thành... Tiến sĩ Ngọc bày tỏ: "Các anh chị em trong cộng đồng doanh nghiệp và khách hàng bất động sản TPHCM nói riêng và cả nước nói chung, tôi xin chia sẻ vài suy nghĩ của mình tưởng chừng như nhỏ, nhưng theo tôi có ý nghĩa lâu dài với ngành bất động sản (BĐS) và đối với bản sắc văn hóa của đất nước.

Bản thân tôi cho rằng những phát biểu của mình không có ý phê phán doanh nghiệp BĐS nào, càng không phải để phủ nhận những đóng góp rất lớn của ngành đối với sự phát triển kinh tế và đô thị của đất nước. Tôi chỉ muốn đặt ra một số vấn đề mà theo tôi, chúng ta nên cùng nhìn lại. Bởi vì tôi tin rằng muốn thị trường BĐS phát triển mạnh và bền vững, trước hết chúng ta phải xây dựng được niềm tin. Và niềm tin không chỉ đến từ những công trình lớn, những khu đô thị đẹp hay những thương hiệu nổi tiếng. Niềm tin phải đến từ giá trị thật, năng lực thật, thông tin minh bạch và trách nhiệm thật".

Một số dự án BĐS mang tên nước ngoài

Từ một cái tên đặt cho chung cư, tòa nhà doanh nghiệp, chúng ta hãy nghĩ đến câu chuyện lớn hơn. Điều đầu tiên vị tiến sĩ kiến trúc này muốn nói là "chuyện đặt tên các dự án BĐS". Trong những năm gần đây, chúng ta thấy ngày càng nhiều dự án sử dụng tên nước ngoài. Việt Nam hội nhập quốc tế, doanh nghiệp làm việc với khách hàng và đối tác quốc tế, việc sử dụng tiếng nước ngoài (đa số là tiếng Anh) trong thương mại là hoàn toàn bình thường. Nhưng chúng ta hãy đặt một câu hỏi "tại sao một dự án được xây dựng trên đất Việt Nam, phục vụ đời sống của người Việt Nam, lại phải có một cái tên nước ngoài mới tạo được cảm giác sang trọng và đẳng cấp?".

Đây là điều chúng ta nên suy nghĩ. Một khu đô thị không phải là một món hàng dùng vài năm rồi thay thế. Một khu đô thị có thể tồn tại 50 năm, 100 năm hoặc lâu hơn. Tên của nó sẽ đi vào bản đồ thành phố, vào cuộc sống của người dân và vào ký ức của nhiều thế hệ. Vì vậy, tên của một dự án BĐS cũng là một phần của văn hóa đô thị. Tiến sĩ Ngọc cho rằng: "Tôi mong chúng ta đủ tự tin để sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình. Chữ Quốc ngữ của Việt Nam vừa đẹp, có ý nghĩa, gắn với lịch sử, địa danh, con người, văn hóa và cảnh quan của chính vùng đất nơi dự án được xây dựng. Chúng ta hoàn toàn có thể có một dự án hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhưng vẫn mang một cái tên tiếng Việt rất đẹp và rất sang trọng".

Nâng cao vị thế tiếng Việt

Cũng theo tiến sĩ Ngọc, một dân tộc càng tự tin về văn hóa và ngôn ngữ của mình thì càng có khả năng hội nhập bình đẳng với thế giới. Tiếng Việt có thể trở thành một giá trị Marketing. Chúng ta cần thay đổi một cách nhìn, không nên nghĩ rằng tên tiếng Anh thì hiện đại, còn tên tiếng Việt thì đã hiện diện trong đời sống của chúng ta. Điều đó không hoàn toàn đúng. Một thương hiệu mạnh không phụ thuộc vào việc tên đó là tiếng Việt hay tiếng Anh, tiếng nước ngoài mà phụ thuộc vào việc cái tên đó có dễ nhớ, dễ nhận diện, có ý nghĩa và tạo được niềm tin hay không? Một cái tên tiếng Việt đẹp có thể gây ấn tượng mạnh. Đáng nói, tên tiếng Việt còn có một lợi thế đặc biệt, đó là tạo sự gần gũi với người Việt và tạo ra sự khác biệt giữa hàng trăm dự án trên thị trường. Trong khi nhiều dự án có tên nước ngoài khá giống nhau, một tên Việt Nam gắn với địa danh, lịch sử hoặc văn hóa địa phương có thể tạo nên dấu ấn riêng. Đó chính là giá trị Marketing.

Đặt tên dự án cũng là kể một câu chuyện về vùng đất, điều này tiến sĩ Ngọc rất mong các doanh nghiệp BĐS trong tương lai khi đặt tên dự án không chỉ nghĩ "làm thế nào để cái tên nghe thật Tây, mà hãy đặt thêm câu hỏi vùng đất này có câu chuyện gì để kể?". Nếu một dự án nằm bên một dòng sông hiền hòa, tại sao chúng ta không khai thác tên gọi và câu chuyện của dòng sông đó, quê hương đó? Nếu nằm trên một vùng đất có lịch sử lâu đời, tại sao không đưa giá trị lịch sử vào thương hiệu của dự án BĐS. Nếu địa phương đó nổi tiếng với cây xanh, hoa, làng nghề, văn hóa hoặc một nhân vật lịch sử, tại sao không biến những giá trị đó thành câu chuyện thương hiệu? Khi đó, doanh nghiệp không chỉ bán một căn nhà, mà doanh nghiệp đang bán một không gian sống có câu chuyện và bản sắc - đó mới là một giá trị rất lớn.

Tiến sĩ Lê Văn Ngọc (người ôm hoa) tại buổi Giới thiệu chương trình cao học quản lý dự án

Nhìn sang các quốc gia Đông Nam Á, như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, Lào và nhiều quốc gia khác đều đang hội nhập rất mạnh với kinh tế quốc tế, họ sử dụng tiếng Anh trong thương mại, du lịch, đầu tư và giao dịch quốc tế, nhưng điều đó không có nghĩa họ từ bỏ ngôn ngữ và bản sắc dân tộc. Mỗi quốc gia vẫn có ý thức bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa, địa danh và những giá trị riêng của mình. Singapore là một ví dụ đặc biệt về một quốc gia có mức độ hội nhập quốc tế rất cao, sử dụng tiếng Anh rộng rãi, nhưng đồng thời vẫn duy trì chính sách đa ngôn ngữ và bản sắc văn hóa. Qua đó, Tiến sĩ Lê Văn Ngọc nhấn mạnh: "Tôi nghĩ người Việt Nam có thể rút ra một bài học, hội nhập càng sâu thì càng cần có bản sắc rõ ràng. Bởi vì nếu chúng ta giống tất cả mọi người, rất khó để thế giới nhận diện chúng ta".

Do vậy, tiến sĩ Ngọc thiết nghĩ doanh nghiệp nên ưu tiên tiếng Việt trong việc đặt tên cho dự án của mình, đặc biệt đối với những dự án gắn với địa danh, lịch sử và văn hóa địa phương. Đồng thời, doanh nghiệp hoàn toàn có thể đặt tên tiếng Anh phục vụ thị trường quốc tế; website tiếng Anh; hồ sơ giới thiệu bằng tiếng Anh; Brochure song ngữ; tài liệu xúc tiến đầu tư quốc tế; hệ thống Marketing dành cho nhà đầu tư nước ngoài... Như vậy, chúng ta giữ bản sắc Việt. Tiếng Anh mở cánh cửa hội nhập. Đây không phải là lựa chọn một trong hai. Đây là sự kết hợp giữa bản sắc dân tộc và năng lực hội nhập quốc tế. Vì vậy, theo vị tiến sĩ Ngọc thì chúng ta cần nghiên cứu xây dựng một bộ hướng dẫn hoặc bộ quy tắc khuyến nghị cho hội viên về BĐS việc đặt tên dự án, sử dụng tiếng Việt - tiếng Anh trong quảng cáo, biển hiệu, website và tài liệu giới thiệu, đồng thời thường xuyên cập nhật khi pháp luật thay đổi. Đây nên là định hướng tự nguyện, hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và xây dựng thương hiệu có bản sắc, không làm hạn chế quyền sáng tạo thương hiệu hợp pháp của doanh nghiệp.

Không ai cấm chủ doanh nghiệp đặt tên chung cư mang tiếng nước ngoài, mà chúng ta sử dụng tiếng nước ngoài đúng chỗ, đúng mục đích và đúng quy định, đồng thời nâng cao vị thế của tiếng Việt trong các hoạt động kinh doanh BĐS tại Việt Nam. Đối với doanh nghiệp BĐS, điều này đặc biệt đáng lưu ý vì tên dự án, bảng giới thiệu, pano, brochure, website, tài liệu bán hàng và các sản phẩm quảng cáo có thể tiếp cận trực tiếp với người mua. Chúng ta nên chủ động thiết kế theo hướng tiếng Việt là nội dung chính, tiếng nước ngoài là phần hỗ trợ hội nhập, trừ những trường hợp pháp luật cho phép khác.

Đặc biệt, pháp luật hiện hành quy định từ ngữ bằng tiếng Việt trong sản phẩm quảng cáo phải bảo đảm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, rõ ràng, dễ hiểu và thể hiện chính xác nội dung cần truyền đạt. Khi sử dụng đồng thời tiếng Việt và tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo, phần chữ nước ngoài không được quá ba phần tư khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt; đối với phát thanh, truyền hình và phương tiện nghe nhìn, phát thanh viên phải đọc tiếng Việt trước tiếng nước ngoài. Theo Luật Quảng cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, sản phẩm quảng cáo phải có nội dung thể hiện bằng tiếng Việt, trừ một số trường hợp luật cho phép như nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc từ ngữ đã được quốc tế hóa không thể thay thế bằng tiếng Việt.

Bình luận (0)

Lên đầu trang