Cùng với định hướng đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác lập tại Nghị quyết số 57-NQ/TW. Những mục tiêu này đòi hỏi Thành phố không chỉ mở rộng không gian phát triển hay gia tăng quy mô đầu tư, mà phải nâng cao năng lực tạo ra giá trị, hình thành những ngành kinh tế có sức cạnh tranh và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có.
Từ khai thác không gian...
Sông Sài Gòn từ lâu đã gắn với lịch sử hình thành, phát triển và giao thương của TPHCM. Dòng sông giữ vai trò trong tổ chức không gian đô thị, vận tải thủy, cảnh quan, sinh thái và đời sống cộng đồng. Trong quá trình phát triển Thành phố, việc khai thác những giá trị ấy là cần thiết. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo, cần đặt lại một câu hỏi căn bản: giá trị lớn nhất mà sông Sài Gòn có thể đóng góp cho sự phát triển trong những thập niên tới là gì?
Nếu tiếp tục tiếp cận dòng sông chủ yếu như một không gian cần chỉnh trang, một hành lang cảnh quan cần khai thác hoặc một quỹ đất có tiềm năng phát triển dự án, tư duy đầu tư rất dễ bắt đầu từ những gì có thể xây dựng. Khi đó, các công trình, bến tàu, khu thương mại, không gian du lịch và dự án ven sông có thể được đề xuất trước, còn nhu cầu thị trường, mô hình vận hành và hiệu quả kinh tế được xem xét sau.
Cách tiếp cận này tiềm ẩn rủi ro đầu tư lớn nhưng chưa chắc hình thành được những năng lực sản xuất mới, những ngành dịch vụ có sức cạnh tranh hoặc những nguồn thu đủ bền vững để duy trì các công trình đã xây dựng. Một dòng sông có giá trị tự nhiên không đồng nghĩa mọi hình thức đầu tư trên dòng sông ấy đều có hiệu quả. Tiềm năng không gian cũng không tự động chuyển thành nhu cầu thị trường. Muốn biến lợi thế địa lý thành giá trị kinh tế, phải có khách hàng, sản phẩm, doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng và cơ chế để các hoạt động đó vận hành lâu dài.
Vì vậy, sông Sài Gòn cần được nhìn nhận không chỉ từ bản thân dòng sông, mà từ những nhu cầu phát triển của TPHCM, của vùng kinh tế phía Nam, của thị trường Việt Nam và những thị trường quốc tế mà doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tham gia.

Không gian bên bờ sông Sài Gòn TPHCM nhìn từ trên cao
Trong mô hình phát triển truyền thống, giá trị của một khu vực thường được thể hiện qua đất đai, công trình, hạ tầng, lượng khách đến và hoạt động thương mại diễn ra tại chỗ. Những yếu tố này vẫn quan trọng, nhưng không còn đủ để phản ánh đầy đủ tiềm năng phát triển trong nền kinh tế ngày càng dựa vào dữ liệu và tri thức. Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi cách doanh nghiệp thiết kế sản phẩm, tổ chức sản xuất, vận hành chuỗi cung ứng, dự báo nhu cầu và cung cấp dịch vụ.
Một doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị lớn nhờ phần mềm, dữ liệu, thuật toán hoặc giải pháp kỹ thuật mà không cần sở hữu một diện tích đất tương ứng với quy mô doanh thu. Một dịch vụ quản lý logistics có thể được cung cấp cho nhiều khách hàng thông qua nền tảng số. Một công nghệ quan trắc môi trường có thể được phát triển tại một địa điểm, thử nghiệm trong điều kiện thực tế rồi thương mại hóa tại nhiều tỉnh, thành phố hoặc quốc gia khác.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa không gian vật chất mất đi vai trò. Hàng hóa vẫn cần được vận chuyển; thiết bị vẫn cần được sản xuất, lắp đặt và bảo trì; công nghệ môi trường vẫn cần được kiểm nghiệm trong điều kiện thực tế. Các hệ thống số muốn tạo ra hiệu quả kinh tế phải kết nối được với những hoạt động cụ thể của đời sống và sản xuất.
Trong bối cảnh ấy, lợi thế của sông Sài Gòn không nên chỉ được đo bằng chiều dài dòng sông, diện tích đất ven bờ hay số lượng công trình có thể xây dựng. Cần xem xét dòng sông có thể giúp giảm chi phí vận chuyển, tạo điều kiện thử nghiệm công nghệ, cung cấp dữ liệu vận hành, kết nối các cơ sở sản xuất hay mở ra thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ mới đến mức nào.
Nói cách khác, giá trị cần tìm kiếm không chỉ là giá trị của không gian, mà còn là giá trị kinh tế được tạo ra nhờ không gian đó. Một khu vực ven sông chỉ tạo ra doanh thu từ bán hoặc cho thuê mặt bằng sẽ có cấu trúc giá trị khác với một khu vực giúp doanh nghiệp phát triển sản phẩm, ký hợp đồng dịch vụ, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hai loại giá trị có thể cùng tồn tại, nhưng không thể đánh đồng.
... Đến kiến tạo năng lực kinh tế mới
Muốn xác định sông Sài Gòn nên được đầu tư để phục vụ những hoạt động nào, trước hết phải nhận diện các nhu cầu có thật của nền kinh tế. TPHCM đang đặt mục tiêu phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất và thúc đẩy thương mại hóa công nghệ.
Chương trình phát triển kinh tế số giai đoạn 2026-2030 của Thành phố đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp khoảng 30-40% GRDP vào năm 2030, đồng thời mở rộng ứng dụng nền tảng số trong các lĩnh vực như cảng biển, du lịch và sản xuất. Những định hướng này cho thấy nhu cầu chuyển đổi phương thức vận hành nền kinh tế là có thật. Nhưng chúng chưa đủ để kết luận cần xây dựng một hệ thống công trình đổi mới sáng tạo quy mô lớn dọc sông Sài Gòn.
Muốn đi từ định hướng phát triển đến quyết định đầu tư, phải xác định cụ thể ngành nào cần giải pháp gì, khách hàng là ai, mức chi trả bao nhiêu và doanh nghiệp trong nước có thể cung ứng đến đâu. Chẳng hạn, trong logistics, vấn đề không chỉ là phát triển thêm bến thủy hay tăng số chuyến tàu.
Cần xác định loại hàng nào có thể vận chuyển bằng đường thủy với lợi thế chi phí, khối lượng hàng ổn định ra sao, thời gian trung chuyển có đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp hay không và chi phí kết nối giữa bến thủy với kho bãi, khu công nghiệp, cảng biển hoặc mạng lưới đường bộ có làm mất đi lợi thế ban đầu không. Nếu các điều kiện đó phù hợp, công nghệ dự báo nhu cầu, tối ưu lịch tàu, điều phối phương tiện và theo dõi hàng hóa có thể tạo ra giá trị bổ sung. Nếu chưa có nguồn hàng và khách hàng ổn định, đầu tư hạ tầng trước có thể làm tăng chi phí mà không tạo ra đủ doanh thu.
Trong lĩnh vực môi trường, các nhu cầu về quan trắc chất lượng nước, giám sát xói lở, dự báo ngập, kiểm soát nguồn thải và quản lý hệ sinh thái có thể mở ra thị trường cho thiết bị, phần mềm và dịch vụ kỹ thuật. Nhưng thị trường chỉ hình thành bền vững khi có đơn vị sử dụng, ngân sách vận hành, tiêu chuẩn đánh giá và trách nhiệm rõ ràng. Một hệ thống cảm biến được lắp đặt mà không có cơ chế duy trì, hiệu chuẩn, xử lý dữ liệu và sử dụng kết quả sẽ khó tạo ra hiệu quả tương xứng với vốn đầu tư.
Tương tự, nếu muốn phát triển công nghệ phục vụ đô thị và công nghiệp, cần xác định doanh nghiệp nào đang gặp vấn đề mà giải pháp hiện có chưa giải quyết tốt; viện, trường nào có khả năng nghiên cứu; doanh nghiệp vừa và nhỏ nào có thể phát triển sản phẩm; khách hàng nào sẵn sàng thử nghiệm, mua hoặc đặt hàng công nghệ. Như vậy, trước khi quy hoạch những khu chức năng mới, cần lập bản đồ nhu cầu thị trường và năng lực cung ứng. Quy hoạch không gian và quyết định đầu tư phải là kết quả của quá trình xác định nhu cầu, chứ không phải công cụ thay thế cho việc xác định nhu cầu.
Một chiến lược nghiêm túc không thể chỉ nói về tiềm năng mà bỏ qua những trở ngại của sông Sài Gòn. Điều kiện luồng tuyến, độ sâu, khả năng kết nối với hạ tầng giao thông, chi phí xây dựng và duy tu, yêu cầu bảo vệ chất lượng nước, rủi ro thủy văn, xung đột sử dụng không gian ven bờ và các ràng buộc pháp lý đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Những yếu tố này phải được xem xét theo từng đoạn sông và từng loại hoạt động.
Không thể mặc định mọi khu vực đều phù hợp cho vận tải hàng hóa, phát triển dịch vụ, thử nghiệm công nghệ hoặc xây dựng công trình. Cũng không nên giả định mọi dự án công nghệ đều cần đặt cạnh mặt nước. Nếu một trung tâm nghiên cứu có thể hoạt động hiệu quả hơn tại một khu công nghệ hiện hữu, không có cơ sở kinh tế để di chuyển hoặc nhân rộng nó ven sông chỉ nhằm tạo hình ảnh.
Quy hoạch chung TP.Thủ Đức (cũ) đến năm 2040 đã định hướng phát triển khu vực này thành trung tâm đổi mới sáng tạo, tri thức, giáo dục, công nghệ cao và dịch vụ, đồng thời chú trọng kết nối các phương thức giao thông, trong đó có đường thủy nội địa. Đây là nền tảng quy hoạch quan trọng để nghiên cứu mối quan hệ giữa sông Sài Gòn với các khu công nghệ, cơ sở đào tạo, khu sản xuất và mạng lưới logistics. Tuy nhiên, việc có định hướng kết nối không đồng nghĩa mọi dự án kết nối đều đã chứng minh được hiệu quả. Từng dự án vẫn cần được đánh giá về nhu cầu, chi phí, tác động môi trường và khả năng vận hành.
Nguyên tắc cần đặt ra là mỗi lợi thế phải được so sánh với chi phí để khai thác lợi thế ấy. Nếu vận tải thủy giúp giảm tổng chi phí giao hàng sau khi tính cả trung chuyển, đó là cơ sở để đầu tư. Nếu một công nghệ môi trường có thể được kiểm nghiệm tại sông Sài Gòn và sau đó bán cho nhiều khách hàng, cần xây dựng phương án thử nghiệm và thương mại hóa. Nếu một công trình chỉ có thể tạo ra doanh thu khi giá đất tăng, trong khi chi phí đầu tư và vận hành lớn, cần đánh giá thận trọng và so sánh với phương án khác.
Không phải cứ có tiềm năng là phải đầu tư. Cũng không phải khoản đầu tư nào có lợi ích công cộng đều phải tự hoàn vốn bằng doanh thu thương mại. Điều cần thiết là phân biệt rõ dự án kinh doanh, dự án hạ tầng thiết yếu và dự án phục vụ lợi ích công cộng; mỗi loại phải có cách tính hiệu quả và cơ chế tài chính tương ứng.
(Còn tiếp)
Muốn phát huy giá trị của sông Sài Gòn, không thể chỉ bắt đầu từ quy hoạch hai bờ, chỉnh trang cảnh quan hay phát triển các dự án bất động sản. Điểm xuất phát phải là nhu cầu của xã hội, quy mô thị trường, năng lực doanh nghiệp và những sản phẩm, dịch vụ mà nền kinh tế cần có trong tương lai. Từ đó mới xác định dòng sông cần được đầu tư như thế nào, đầu tư đến đâu và bằng nguồn lực nào để tạo ra hiệu quả thực chất.