Đánh thức sông Sài Gòn! (Bài 2)

Thứ Ba, 13/10/2026 08:02

|

(CATP) Một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển sông Sài Gòn là tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia các ngành sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Điều này không thể thực hiện chỉ bằng cách thu hút một số nhà đầu tư lớn hoặc xây dựng những trung tâm mang tên đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp lớn có thể đóng vai trò khách hàng đầu chuỗi, nhà đầu tư hạ tầng hoặc đơn vị tổ chức các hệ thống logistics, công nghiệp và dịch vụ quy mô lớn. Họ có khả năng xác định nhu cầu, đặt ra yêu cầu kỹ thuật và tạo thị trường ban đầu. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể phát triển phần mềm chuyên dụng, cảm biến, thiết bị, dịch vụ bảo trì, phân tích dữ liệu, kiểm định và các giải pháp tích hợp.

Tạo chuỗi cung ứng

Để mối quan hệ ấy hình thành, phải có hợp đồng, tiêu chuẩn và cơ chế chia sẻ cơ hội thị trường. Nếu doanh nghiệp lớn chỉ tham gia hội thảo, ký kết hợp tác chung hoặc tài trợ hoạt động mà không phát sinh nhu cầu mua sắm thực tế, doanh nghiệp nhỏ vẫn không có đầu ra. Nếu doanh nghiệp nhỏ được hỗ trợ nghiên cứu nhưng không tiếp cận được khách hàng, sản phẩm khó vượt qua giai đoạn thử nghiệm.

Do đó, những chương trình phát triển công nghệ gắn với sông Sài Gòn cần bắt đầu từ các bài toán mà khách hàng thực sự muốn giải quyết. Doanh nghiệp lớn công bố nhu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn; doanh nghiệp nhỏ đề xuất giải pháp; viện, trường hỗ trợ nghiên cứu và kiểm định; cơ quan quản lý tạo điều kiện cho thử nghiệm trong khuôn khổ pháp luật. Sau giai đoạn thử nghiệm, sản phẩm đạt yêu cầu phải có cơ hội tiếp cận hợp đồng thương mại và các thị trường khác. Cách tổ chức này giúp nguồn lực công tập trung vào việc tháo gỡ những "điểm nghẽn" mà thị trường chưa tự giải quyết được, thay vì tài trợ dàn trải cho các hoạt động chưa xác định được đầu ra.

Với một không gian có quy mô lớn và nhiều ràng buộc như sông Sài Gòn, việc đầu tư cần được phân kỳ và gắn với các điều kiện kiểm chứng. Không nên cam kết nguồn vốn lớn ngay từ đầu chỉ dựa trên dự báo về sự phát triển của công nghệ hoặc kỳ vọng tăng trưởng của thị trường. Trong ngắn hạn, cần ưu tiên khảo sát nhu cầu, lập dữ liệu nền, xác định khách hàng và thử nghiệm những giải pháp có thể đánh giá trong thời gian tương đối ngắn. Những dự án này phải có chỉ tiêu cụ thể như mức giảm chi phí, độ chính xác của dữ liệu, số hợp đồng phát sinh, chi phí vận hành hoặc kết quả môi trường.

TPHCM cần nâng tầm giá trị kinh tế, văn hóa, lịch sử của sông Sài Gòn

Trong trung hạn, nếu các mô hình thử nghiệm chứng minh được nhu cầu và hiệu quả, có thể phát triển mạng lưới nhà cung cấp, hoàn thiện tiêu chuẩn, mở rộng dịch vụ và đầu tư hạ tầng dùng chung. Việc mở rộng phải dựa trên bằng chứng về nhu cầu, năng lực doanh nghiệp và khả năng duy trì tài chính, không chỉ dựa trên mức độ quan tâm hoặc số lượng đơn vị tham gia.

Trong dài hạn, những công trình có vòng đời lớn và tác động lâu dài đến không gian đô thị cần được đánh giá đồng thời về hiệu quả kinh tế, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, tác động sinh thái, chi phí duy tu và lợi ích xã hội. Các công trình công cộng không nhất thiết phải tạo doanh thu trực tiếp, nhưng phải chứng minh được lợi ích mà xã hội nhận được tương xứng với nguồn lực sử dụng.

Cách làm này không phủ nhận vai trò của tầm nhìn dài hạn. Ngược lại, nó giúp tầm nhìn tránh trở thành lý do để duy trì những khoản đầu tư thiếu hiệu quả. Tầm nhìn càng lớn càng cần cơ chế kiểm chứng chặt chẽ, bởi nguồn lực dành cho một phương án không hiệu quả cũng chính là nguồn lực không còn để giải quyết những nhu cầu cấp thiết khác.

Giá trị lịch sử, cảnh quan và sinh thái của sông Sài Gòn cần được gìn giữ và phát huy. Tuy nhiên, không nên buộc mọi giá trị ấy phải được chuyển thành doanh thu thương mại, cũng không nên dùng chúng làm căn cứ duy nhất cho những chương trình đầu tư lớn. Cần đặt các giá trị tự nhiên, văn hóa và công cộng trong một cấu trúc phát triển có quan hệ với sản xuất, dịch vụ, công nghệ và chất lượng sống.

Thước đo quan trọng không phải là có bao nhiêu công trình mới được xây dựng dọc bờ sông, mà là Thành phố tạo ra thêm được những năng lực nào nhờ dòng sông. Đó có thể là vận chuyển hàng hóa hiệu quả hơn, hình thành các nhà cung cấp công nghệ trong nước, thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, nâng cao năng lực quản lý môi trường hoặc tạo ra không gian công cộng phục vụ người dân với chi phí hợp lý.

Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên không phải là lập một danh mục dự án thật lớn, mà là khảo sát nhu cầu thị trường, năng lực doanh nghiệp, khoảng trống công nghệ, điều kiện sinh thái và lợi thế của từng đoạn sông. Từ kết quả đó mới lựa chọn các chuỗi giá trị có khả năng phát triển, xác định quy mô thị trường, tính toán vốn đầu tư và phân công trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu.

Quy hoạch gắn với sông Sài Gòn sẽ làm cho TPHCM có diện mạo đẹp và đầy sức sống

Nâng cao hiệu quả vận hành

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, sông Sài Gòn cần được nhìn nhận như một lợi thế phát triển phải được chứng minh bằng kết quả, chứ không phải một không gian mặc nhiên cần được khai thác bằng mọi giá. Dòng sông chỉ thực sự trở thành động lực kinh tế mới khi những lợi thế tự nhiên và vị trí của nó được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và năng lực sản xuất có nhu cầu thực; khi doanh nghiệp có thể phát triển và bán được sản phẩm; khi người dân nhận được lợi ích rõ ràng và khi nguồn lực đầu tư được sử dụng hiệu quả trong cả ngắn hạn, trung hạn lẫn dài hạn.

Đó là cách chuyển từ tư duy khai thác không gian sang tư duy kiến tạo năng lực kinh tế. Không bắt đầu bằng câu hỏi sông Sài Gòn có thể xây dựng những gì, mà bằng câu hỏi nền kinh tế đang cần tạo ra những gì, dòng sông có thể đóng góp ở khâu nào và điều kiện nào bảo đảm khoản đầu tư đem lại hiệu quả thực chất. Chính câu trả lời ấy sẽ quyết định sông Sài Gòn trở thành một phần của mô hình tăng trưởng mới hay chỉ tiếp tục là một lợi thế lớn chưa được khai thác tương xứng.

Qua nhiều thập niên, việc khai thác giá trị sông Sài Gòn thường được tiếp cận từ 3 hướng chủ yếu: phát triển giao thông và hạ tầng ven sông; chỉnh trang cảnh quan, mở rộng không gian công cộng và du lịch; khai thác quỹ đất để phát triển nhà ở, thương mại và các dự án dịch vụ. Mỗi hướng đều có vai trò nhất định và đã góp phần thay đổi diện mạo đô thị. Vấn đề không nằm ở bản thân các hoạt động này, mà ở cách chúng được tổ chức thành một mô hình phát triển.

Về cơ bản, mô hình truyền thống thường bắt đầu từ lợi thế không gian và khả năng đầu tư xây dựng. Khi một đoạn sông được xác định có tiềm năng, các phương án phát triển thường tập trung vào việc tổ chức lại mặt bằng, xây dựng hạ tầng, tạo cảnh quan, thu hút nhà đầu tư và hình thành các hoạt động thương mại. Hiệu quả được kỳ vọng thông qua giá trị đất đai tăng lên, doanh thu từ bất động sản, lượng khách du lịch, hoạt động dịch vụ và mức độ cải thiện diện mạo đô thị.

Cách tiếp cận này hình thành trong bối cảnh Thành phố cần mở rộng không gian đô thị, hoàn thiện hạ tầng và huy động nguồn vốn lớn cho quá trình đô thị hóa. Trong điều kiện nhu cầu nhà ở, thương mại và dịch vụ tăng nhanh, đất đai ven sông có khả năng tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp, còn công trình và hạ tầng là những yếu tố có thể nhìn thấy, đo lường và tổ chức đầu tư. Vì vậy, việc lấy không gian xây dựng làm điểm xuất phát từng là một lựa chọn dễ hiểu, có cơ sở kinh tế trong những điều kiện nhất định.

Tuy nhiên, khi Thành phố bước vào giai đoạn phát triển mới, cách tiếp cận này bắt đầu bộc lộ những giới hạn. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị đã xác định yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển tích hợp, kết nối và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Điều đó cho thấy nhiệm vụ phát triển không còn dừng ở việc tạo thêm không gian đô thị, mà phải nâng cao hiệu quả vận hành của toàn bộ nền kinh tế và chất lượng sống của người dân.

Một phương án tạo ra giá trị thương mại cao trong ngắn hạn chưa chắc đem lại hiệu quả xã hội cao nếu làm tăng chi phí chống ngập, gây áp lực lên hạ tầng hoặc làm suy giảm khả năng tiếp cận không gian công cộng. Tương tự, một công trình có chi phí đầu tư ban đầu thấp nhưng đòi hỏi duy tu lớn hoặc dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu có thể trở thành gánh nặng tài chính trong suốt vòng đời sử dụng. Vì vậy, không thể chỉ so sánh các phương án bằng vốn xây dựng ban đầu hoặc doanh thu dự kiến. Cần tính cả chi phí vận hành, bảo trì, khắc phục rủi ro, tác động môi trường và giá trị của những lợi ích công cộng được duy trì. Đây cũng là lý do quy hoạch sông Sài Gòn cần được tích hợp với quản lý tài nguyên nước, chống ngập, bảo vệ môi trường và tổ chức không gian đô thị, thay vì xem mỗi dự án là một đơn vị đầu tư biệt lập.
Đánh thức sông Sài Gòn!
 

Bình luận (0)

Lên đầu trang