Từ ký ức vùng tự do đến Chiến dịch 500 ngày đêm:

Bài 1: Vùng tự do giãn nở

Thứ Ba, 29/09/2026 08:26

|

(CATP) Chiến dịch 500 ngày đêm, đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt Liệt sĩ (HCLS), hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027) được triển khai trên địa bàn cả nước. Tại tỉnh Quảng Ngãi, nhiều Liệt sĩ đã nằm lại tại vùng tự do (vùng giải phóng). Trước năm 1975, người dân thường gọi các vùng theo kiểu địa phương là "vùng quốc gia, vùng xôi đậu và vùng tự do".

Ở tỉnh Quảng Ngãi có rất nhiều vùng tự do nằm sát nách các căn cứ của địch. Đó là nơi những người lính chiều có mặt trên mâm cơm, gần sáng đoàn quân trở về thì lại khuyết mấy người. Liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm từng ở tại vùng tự do nằm trên thôn Nước Đang, nhưng thỉnh thoảng vẫn phải đi cơ sở, xuống vùng địch chiếm. Và có chuyến đi không trở về trước khi trời sáng, phải lánh xuống hầm bí mật.

Đường đêm về vùng địch

Trong nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm viết về cảnh đi xuống vùng tự do: "13/6/1969, xuống Phổ Cường, ra đi niềm vui hồ hởi vì hy vọng rằng, dịp này sẽ có điều kiện về sống giữa tình thương của những người thân trong 1 - 2 ngày trước khi bắt tay vào thu dung". Năm 1969, địa danh Phổ Cường mà chị Trâm nhắc đến là nơi có tuyến đường sắt xuyên qua. Phía Đông đường sắt là do chính quyền địch kiểm soát 100% vào ban ngày, phía trên đường sắt khoảng 1km là vùng được người dân gọi là xôi đậu, tức là đan xen giữa cách mạng và địch; cách đó không xa về hướng Tây là vùng tự do nằm ở thôn Nước Đang.

Những Liệt sĩ ngã xuống ở vùng giáp ranh này, chiếm phần lớn là những chiến sĩ đi làm nhiệm vụ cõng gạo. Cứ đêm xuống, từng nhóm chiến sĩ từ trên vùng tự do sẽ bí mật đi xuống vùng xôi đậu, sau đó được giao liên dẫn đường tới vùng địch và du kích dẫn đi tiếp sâu vào trong lòng địch, tiếp cận kho gạo chôn dưới đất, làm thủ tục xuất kho, nhận hàng và quay trở lên vùng tự do trước khi trời sáng.

Các em học sinh xã Đặng Thùy Trâm tại vùng đất bác sĩ Đặng Thùy Trâm từng trụ lại để cứu chữa cho thương binh, vừa qua chính quyền địa phương đã phối hợp tìm ra thêm nhiều hài cốt Liệt sĩ

Ông Phạm Văn Đe, dân tộc Hrê, quê ở xã Đặng Thùy Trâm nhớ lại, năm 15 tuổi, ông là giao liên và thường được ông trưởng thôn Nước Đang giao nhiệm vụ dẫn chị Trâm xuống vùng địch. Cứ ăn cơm chiều xong thì lên đường. Cậu giao liên trẻ khoác súng đi trước, còn chị Trâm đi sau. Thỉnh thoảng chị Trâm nhắc chừng cậu giao liên "coi chừng địch phục ở phía trước, coi chừng nơi đánh dấu mìn do du kích cài lại...". Trước khi đi, cậu Đe nhận mật khẩu. Nếu gặp người lạ thì phát mật khẩu, nếu trả lời khớp thì đi tiếp, nếu trả lời sai thì nổ súng.

Ông Phạm Văn Ba, trưởng thôn trang bị thêm cho cậu giao liên 1 băng đạn dự phòng và căn dặn khi tới vùng địch thì phải chú ý việc xóa dấu vết. Thông thường, nếu đi sát đồn địch thì có khi có thêm một cậu giao liên khác đi phía sau cùng, lưng quay ngược lại với hướng đi, 2 tay xoa nhẹ lên lớp cây cỏ, hất ngược lên. Nếu địch tìm tới thì khó đoán được dấu vết này mới hay cũ, khó truy theo hướng đi của người phía trước.

Tác giả tìm được một nhân chứng là bà Phạm Thị Bè, quê ở xã Đình Cương, tỉnh Quảng Ngãi, nguyên là du kích xã Hành Thịnh cũ, vợ của cựu chiến binh Lại Vũ Yên, quê ở tỉnh Thái Bình, từng chiến đấu tại vùng tự do xã Hành Thịnh. Bà Bè kể: "Giữa năm 1971, cả đoàn 7 người đi từ vùng tự do xuống vùng địch để cõng gạo. Lúc đi lên thì tự dưng dép cao su bị tuột quai, tôi cúi xuống cài lại dép nên chậm vài nhịp, vì vậy người ở kế cận sau đi vượt lên, nhưng anh ấy mới đi được mấy bước là ngã gục, rồi đạn xối xả, vì mình đã lọt vô ổ phục kích".

Quy tập hài cốt Liệt sĩ ở vùng tự do xã Thiện Tín, tỉnh Quảng Ngãi

Tối xuống, sáng lui

Trong những ngày qua, các Đội khai quật và xác định danh tính HCLS của tỉnh Quảng Ngãi đã lấy mẫu hơn 13.656 hài cốt tại 113 nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn toàn tỉnh. Trong số các Liệt sĩ hy sinh, có nhiều người đã ngã xuống ở vùng tự do, hoặc vùng xôi đậu, nhiều người trong số đó chưa xác định được danh tính vì đồng đội chôn vội ngay giữa cánh đồng, trong bìa núi, sau đó rút về vùng tự do. Tuy nhiên cũng có những hài cốt bị thất lạc, chưa tìm thấy cho tới khi Chiến dịch 500 ngày đêm được triển khai.

Từ ngày 09 đến ngày 11/9/2026, Ban Chỉ huy Quân sự xã Đặng Thùy Trâm tổ chức tìm kiếm, quy tập và phát hiện 3 HCLS tại tổ Hố Sâu và tổ Đồng Răm, thôn Đồng Răm. Như vậy, đến nay xã Đặng Thùy Trâm đã tìm kiếm, quy tập được 6 bộ HCLS tại khu vực này. Đó là những Liệt sĩ đã ngã xuống ở vùng tự do. Ông Phạm Văn Đe mô tả, ngày đó trực thăng UH-1A ngày nào cũng bay lên vùng tự do, đi soi từng cánh rừng, bay rất thấp. Tuy thấy mục tiêu ngon ăn, nhưng du kích vẫn im hơi lặng tiếng để giữ bí mật.

Thỉnh thoảng lính Mỹ từ căn cứ núi Dàng của huyện Đức Phổ lại đổ quân lên một mõm núi ở vùng tự do của đồng bào người Hrê. Có lúc máy bay L-19 bay trên bầu trời và phát loa kêu gọi những người dân đang sống ở vùng tự do rời núi rừng, xuống vùng có chính quyền, nếu ở lại thì không bảo toàn tính mạng. Tuy nhiên, đáp lại những lời kêu gọi để thực hiện chiến thuật "tát nước bắt cá” là sự yên lặng, cùng những ánh mắt đang soi lên bầu trời của những người lính.

Tới năm 1971, vùng tự do được nới rộng ra, đường tàu lửa trở thành giới tuyến vô hình. Cứ sau 5 giờ chiều, quân giải phóng từ hướng Tây của đường tàu lại đi xuống, còn bọn lính thì rút về các căn cứ, co cụm giữa các công sự và hàng rào bùng nhùng. Vì vậy trong nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm mới kể lại chuyện đi công tác xuống xã Phổ Cường, xuống tận thôn Quy Thiện, xã Phổ Khánh nằm ở sát mặt biển. Tại đây, du kích luôn bố trí các đội đưa người đi ngược lên. Nhưng nếu trong trường hợp địch đổ quân chặn đường, những người đi cơ sở phải lập tức biến mất dưới những căn hầm bí mật.

Vợ chồng bà Phạm Thị Bè từng chiến đấu ở vùng tự do Hành Thịnh

Giữa những làn đạn

Chiều 11/9/2026, tại phần mộ số 1, hàng 10, lô B, Nghĩa trang Liệt sĩ Hành Tín Đông, xã Thiện Tín, tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng quy tập, tìm kiếm và xác định danh tính HCLS đã phát hiện một chai penicillin lưu 3 mảnh giấy ghi danh tính Liệt sĩ Võ Thành Minh; nhập ngũ tháng 8/1971 - Tiểu đoàn 8; hy sinh tháng 6/1974 tại Ngọc Dạ, Hành Thiện. Trong tài liệu về lịch sử kháng chiến chống Mỹ của tỉnh Quảng Ngãi, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 52 là đơn vị án ngữ tại phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi, dựa vào núi rừng Ba Tơ, sông suối hiểm trở để chiến đấu, mở rộng hành lang để bảo vệ tuyến đường vận tải chạy dọc dãy Trường Sơn.

Có những địa bàn cực kỳ khắc nghiệt và người dân phải sống giữa 2 lằn ranh của súng đạn, ví dụ như xã Tịnh Hà (nay là xã Sơn Tịnh), tỉnh Quảng Ngãi. Những người dân tại khu vực này thường phải chạy về phía Đông của tuyến đường tàu, mỗi khi trời sáng thì sẽ vượt sang hướng Tây tuyến đường sắt để làm ruộng. Tuy nhiên họ phải luôn rời đồng ruộng về phía Đông đường sắt trước 17 giờ. Vì đêm xuống nơi này sẽ biến thành vùng giải phóng, còn ban ngày thì chính quyền phía địch quản lý.

Những vùng "đêm ta, ngày địch" xuất hiện khắp nơi và cứ co giãn tùy tình hình chiến sự. Mẹ Việt Nam Anh hùng Ngô Thị Lùng (Dí), sinh năm 1927, quê ở xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi chỉ lên 4 tấm di ảnh Liệt sĩ trên bàn thờ và kể về vùng tự do co giãn ở thôn Phước Toàn, xã Đức Hòa, huyện Mộ Đức (nay thuộc xã Mộ Đức), trước năm 1975 là một vùng lõm tự do. Nhờ địa thế cạnh dòng sông Thoa, chĩa thẳng vào trục Quốc lộ 1A, vùng lõm Phước Toàn luôn khiến địch đau đầu. Vì chỉ cần một trận phục kích nhỏ cũng khiến tuyến giao thông chính bị tê liệt.

Ngày 10/5/1963, trong lúc chỉ huy lực lượng chống càn, anh Võ Bé, khi đó là Xã đội phó, đã hy sinh do vướng phải chính quả mìn của lực lượng du kích bố trí trên đường. Sau đó lần lượt 3 người thân của mẹ hy sinh tại vùng lõm giải phóng. Mẹ nói: "Nhiều năm đau buồn, cứ tưởng rồi cũng đi theo chồng con, có lần gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói là chắc gặp lần cuối cùng, nhưng rồi nay đã 99 tuổi mà vẫn khỏe mạnh và thấy quê hương đang đổi mới".

Những địa phương là vùng giải phóng, vùng tự do trước năm 1975 thường có rất nhiều Liệt sĩ, được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Riêng xã Đình Cương có 450 mộ Liệt sĩ; xã Hành Thịnh là vùng tự do từ năm 1965 và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân từ năm 1978.

Bình luận (0)

Lên đầu trang