Phúc thẩm vụ tranh chấp phần đất xây "lậu" tòa nhà 12 tầng ở Phú Quốc:

Viện Kiểm sát đề nghị hủy án sơ thẩm có nhiều "lỗ hổng"

Thứ Năm, 09/07/2026 10:18

|

(CATP) Ngoài phần đất xây trái phép tòa nhà 12 tầng gây xôn xao dư luận (đã được phía bị đơn tháo dỡ toàn bộ), nguyên đơn còn tranh chấp các thửa liền kề với tổng diện tích 13.427m2 tại ấp Cửa Lấp, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang). Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 02/7/2026, đại diện nguyên đơn đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì vi phạm cả nội dung lẫn tố tụng. Đại diện VKSND tỉnh An Giang cũng đề nghị hủy án.

Kẻ nói bán, người bảo vay…

Kèm đơn kêu cứu và hồ sơ liên quan, nguyên đơn Nguyễn Thanh Hải (SN 1993, ngụ P.Bình Đông, TPHCM), trình bày: Cuối năm 2017, ba mẹ ông là ông bà Nguyễn Thanh Châu và Hoàng Trần Thiên Nga cùng một số người thân (gồm các ông bà Nguyễn Thanh Sơn, Phan Thị Thanh Mỹ và Trần Thị Xuân Oanh) góp tiền mua 5 thửa đất tại ấp Cửa Lấp, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (cũ) của ông Tăng Tấn Đạt (SN 1984, ngụ đặc khu Phú Quốc) với diện tích 13.427m2. Cả 5 thửa đất này đều thuộc tờ bản đồ số 10, trong đó thửa 137 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) số CL 956969 với diện tích 2.044,6m2; thửa số 130 được cấp GCNQSDĐ số BB 029274 với 590,2m2; thửa số 11 được cấp GCNQSDĐ số BO 417190 với 3.603,4m2; thửa 129 được cấp GCNQSDĐ số CK 531591 với 2.436m2 và thửa 04 được GCNQSDĐ số BO 403314 với 4.752,8m2.

Theo thỏa thuận, giá 5 thửa đất là 135 tỷ đồng; bên mua đã thanh toán cho ông Đạt 119 tỷ đồng, kèm theo các phiếu "ủy nhiệm chi". Trong đó, ông Châu chuyển trả 10,2 tỷ; bà Nga 8 tỷ; ông Sơn 11,8 tỷ; bà Mỹ 78 tỷ và bà Oanh 11 tỷ đồng.

Đại diện nguyên đơn tiếp nhận khu đất có căn nhà 6 tầng

Sau khi thanh toán, hai bên đã ký 3 hợp đồng chuyển nhượng (HĐCN) đối với các thửa đất 137, 130 và 11 do vợ chồng ông Hải đại diện đứng tên. Hai thửa còn lại 129 và 04 cũng đã công chứng nhưng chưa sang tên do "vướng thủ tục". Hai bên thỏa thuận, nguyên đơn cắt 1.600m2 giao lại cho ông Đạt, cấn trừ 16 tỷ đồng (trong số tiền 135 tỷ) chưa thanh toán.

Đến năm 2019, do có nhu cầu cần vay tiền, thông qua giới thiệu của ông Đạt, ba ông Hải đứng ra vay của ông Vũ Mạnh Hùng (ngụ TP.Hà Nội, bị đơn của vụ án) 4 lần với số tiền 120 tỷ đồng, lãi 5%/tháng, lấy trước 2 tháng, trừ trực tiếp vào tiền gốc. Cụ thể: ngày 09/01/2019 vay 90 tỷ đồng, nhưng chỉ nhận 81 tỷ (trừ 2 tháng lãi 9 tỷ). Ngày 23/01/2019 vay 10 tỷ đồng, thực nhận 9 tỷ. Tương tự, ngày 01/3/2019 và 01/4/2019, vay 2 lần, mỗi lần 10 tỷ, thực nhận 9 tỷ/lần. Tổng số tiền nhận được của 4 lần vay là 108 tỷ đồng.

Để bảo đảm nghĩa vụ vay tiền, ông Hùng yêu cầu nguyên đơn thế chấp 5 thửa đất trên bằng cách ký HĐCN "giả cách" để làm tin. Ngày 09/01/2019, nguyên đơn ký HĐCN đối với 3 thửa đất 137, 130, 11 cho bị đơn; ông Đạt ký HĐCN đối với 2 thửa đất 129 và 04.

Sau khi vay, nguyên đơn đã trả được 74 tỷ đồng trong năm 2019, chuyển vào tài khoản "Trần Thị Tuyết Nhung" theo yêu cầu của bị đơn (ngày 30/10 chuyển 20 tỷ; ngày 04/11 chuyển 5 tỷ; ngày 11/11 chuyển 40 tỷ và ngày 25/11 chuyển 9 tỷ đồng). Nội dung các đợt chuyển tiền vay: "Nguyễn Thanh Châu thanh toán tiền cho Vũ Mạnh Hùng theo HĐ ký ngày 09/01/2019".

Đang thực hiện trả nợ vay thì nguyên đơn phát hiện bị đơn làm thủ tục đăng bộ đối với 5 thửa đất trên. Từ đó, ông Hải khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu các HĐCN 5 thửa đất do giả tạo nhằm che giấu giao dịch vay tiền. Sau khi xem xét, TAND TP.Phú Quốc (nay là TAND Khu vực 2 - An Giang) đã ra thông báo thụ lý số 222/2022/TLST-DS ngày 06/7/2022.

Đại diện bị đơn trình bày: Đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo bị đơn, không có việc thỏa thuận cho vay giữa ông Châu và ông Hùng; nếu nói là "khoản vay" thì ông Châu phải chứng minh. Ông Hùng giao dịch mua đất thể hiện bằng 5 HĐCN, được công chứng và đã giao đủ tiền. Do nguyên đơn đứng tên đất dùm ông Châu, nên mọi giao dịch do ông Châu thỏa thuận với ông Hùng. Ông Châu tự nguyện bàn giao đất cho bị đơn quản lý.

Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Hùng lập thủ tục cấp đổi, tách thửa đất theo quy định; đồng thời tách cho ông Tăng Tấn Đạt 1.672,2m2 theo thỏa thuận trước đây. Ông Hùng đã vào khu đất sửa chữa, xây dựng, bị UBND TP.Phú Quốc xử phạt, buộc tháo dỡ, khôi phục hiện trạng...

"Sửa chữa, xây dựng" mà bị đơn trình bày liên quan đến công trình "khủng" là tòa nhà 12 tầng (làm khách sạn) xây dựng trái phép trên phần đất 473m² (thuộc đất tranh chấp) gây xôn xao dư luận(!). Trước dịch bệnh Covid-19, tòa nhà 6 tầng đã "mọc lên", sau đó được "phù phép" thành 12 tầng với tổng diện tích sàn hơn 2.700m². Tháng 8/2022, UBND TP.Phú Quốc ban hành quyết định (QĐ) xử phạt 61,5 triệu đồng đối với chủ đầu tư. Tiếp đến, tháng 5/2023, Chủ tịch UBND TP.Phú Quốc ký QĐ cưỡng chế buộc phá dỡ công trình vi phạm, khôi phục lại hiện trạng ban đầu.

Chủ đầu tư (bị đơn trong vụ án) đã tự nguyện tháo dỡ xong, nhưng hàng loạt vấn đề đằng sau công trình "khủng" này đến nay vẫn còn "bí ẩn".

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 09/02/2026, TAND Khu vực 2 - An Giang với HĐXX do Thẩm phán Chung Quốc Hội làm chủ tọa, tuyên Bản án số 30/2026/DS-ST (Bản án 30) bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ 6 biến thành 16 tầng, đã được bị đơn phá dỡ, trả lại hiện trạng

Có căn cứ để hủy án sơ thẩm

Nghiên cứu hồ sơ, nhóm luật sư trợ giúp pháp lý cho nguyên đơn chứng minh Bản án 30 lộ rõ nhiều vi phạm nghiêm trọng.

Thứ nhất, Tòa sơ thẩm không triệu tập người "có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" khi giải quyết vụ án: 5 thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do ông Đạt chuyển nhượng; nhiều người góp tiền mua đất và đã thanh toán cho ông Đạt tổng cộng 119 tỷ đồng, bằng các "ủy nhiệm chi". Tòa án sơ thẩm chỉ triệu tập một số người "có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan"; bỏ quên nhiều người, vi phạm nghiêm trọng khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015, làm các đương sự không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình.

Trong đó, các ông bà Nguyễn Thanh Sơn, Phan Thị Thanh Mỹ và Trần Thị Xuân Oanh đồng loạt gửi đơn đến TAND tỉnh An Giang đề nghị làm rõ trách nhiệm của Thẩm phán Hội theo quy định; đồng thời kiến nghị hủy Bản án 30 để xét xử lại, triệu tập đầy đủ những người "có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan", giải quyết toàn diện vụ án.

Thứ hai, giao dịch liên quan đến 5 thửa đất thể hiện bằng "Biên bản thỏa thuận" (BBTT) được hai bên ký ngày 29/5/2020. BBTT vô hiệu cả về hình thức lẫn nội dung. Về hình thức: Đây là giao dịch chuyển nhượng QSDĐ giữa 2 ông Châu - Hùng, nhưng BBTT được lập bằng giấy tay, không công chứng, vi phạm điểm a, khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013. Theo đó, HĐCN, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ phải được công chứng hoặc chứng thực.

Phía bị đơn thừa nhận mọi giao dịch diễn ra giữa 2 ông Châu - Hùng. BBTT thể hiện chỉ có ông Châu ký với bị đơn, trong khi đó, ông Châu có vợ là bà Hoàng Trần Thiên Nga. Như vậy, giao dịch này vi phạm điểm a khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về "chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung" phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.

Về nội dung: Tại thời điểm ký BBTT thì cả ông Châu và ông Hùng đều không có GCNQSDĐ để thực hiện việc chuyển nhượng. Thực tế, trong 5 thửa đất, có 3 thửa do ông Hải đứng tên; 2 thửa do ông Đạt đứng tên. Như vậy, tại thời điểm giao kết, cả ông Hùng và ông Châu đều không đủ điều kiện chuyển nhượng QSDĐ, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.

Mặt khác, do BBTT không thể thực hiện được nên bị vô hiệu ngay tại thời điểm các bên giao kết, theo quy định tại khoản 1 Điều 408 BLDS năm 2015.

Thứ ba, BBTT ghi ông Châu bán lại 5 thửa đất cho ông Hùng với giá "hai bên tự thỏa thuận" và ông Hùng đã trả cho ông Châu là 120 tỷ đồng tiền mặt. Trong vòng 2 tháng, ông Hùng ưu tiên bán lại cho ông Châu với "phát sinh lợi nhuận là 5%/tháng trên số tiền mà ông Hùng đã bỏ ra...". Trong khi đó, tại các HĐCN 5 thửa đất được công chứng ngày 09/01/2019, giá mỗi thửa đất đều ghi 1 tỷ đồng, thấp hơn rất nhiều so với giá chuyển nhượng.

Phía bị đơn cho rằng, mua 5 thửa đất giá 120 tỷ đồng, đã giao đủ bằng tiền mặt nhưng không có tài liệu chứng minh. Còn ông Châu và nguyên đơn xác định không nhận tiền chuyển nhượng đất ngày 09/01/2019. Đây là vấn đề mấu chốt của vụ tranh chấp nhưng HĐXX sơ thẩm chưa làm rõ.

Ngoài ra, trong ngày ký HĐCN, bị đơn chuyển cho bà Phan Thị Thanh Mỹ 38,5 tỷ đồng, nội dung: "VU MANH HUNG THANH TOAN TIEN MUA DAT" (tạm dịch: "Vũ Mạnh Hùng thanh toán tiền mua đất"). Vì sao ông Hùng đã thanh toán đủ bằng tiền mặt cho ông Châu để mua 5 thửa đất mà phải "chuyển thêm" đến 38,5 tỷ đồng vào ngày 09/01/2019 cho bà Mỹ? Tình tiết mâu thuẫn, bất thường này HĐXX chưa làm rõ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các đương sự.

Thứ tư, BBTT ghi nội dung: Từ ngày 23/11/2019, ông Châu mua lại 5 thửa đất với giá 162,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, căn cứ theo các phiếu "ủy nhiệm chi", trước đó ông Châu đã 3 lần chuyển cho ông Hùng với tổng số tiền 65 tỷ đồng (vào các ngày 30/10, 04/11 và 11/11/2019). HĐXX cấp sơ thẩm không làm rõ vì sao chưa đến ngày thực hiện việc chuyển nhượng, các bên không có thỏa thuận về đặt cọc mà ông Châu đã chuyển trước cho ông Hùng đến 65 tỷ đồng?

Thứ năm, qua thu thập tài liệu, đại diện nguyên đơn phát hiện QĐ số 18/2022/QĐ-BPĐB ngày 25/10/2022 "buộc thực hiện biện pháp bảo đảm" do Thẩm phán Chung Quốc Hội ký. Theo đó, nguyên đơn phải gửi tài sản bảo đảm có giá trị 1,35 tỷ đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn đều không nhận được bất kỳ văn bản nào của tòa sơ thẩm liên quan đến QĐ này.

Thứ sáu, ngày 05/12/2025, Tòa sơ thẩm ra thông báo thụ lý vụ án bổ sung số 222A/TB-TLVA các yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, HĐXX sơ thẩm lại "quên" xem xét, giải quyết yêu cầu bổ sung này.

Với nhiều "lỗ hổng" được chỉ ra, đại diện VKSND tỉnh An Giang đề nghị HĐXX phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 09/02/2026 của TAND Khu vực 2 - An Giang là có căn cứ.

Bình luận (0)

Lên đầu trang