Nhanh chóng đưa các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 vào cuộc sống:

Bài 2: Phát huy mọi nguồn lực phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh

Thứ Sáu, 31/07/2026 10:08

|

(CATP) Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV vào sáng 29/7, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày hai chuyên đề: "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" và "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh", với quan điểm đột phá về thể chế, đổi mới phương thức quản trị để tạo năng lực phát triển mới cho đất nước.

Nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia

Trình bày những nội dung chủ yếu của Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo.

Quan điểm thứ nhất xác định các nguyên tắc nền tảng trong đổi mới mô hình phát triển. Đó là thực hiện nhất quán "bốn kiên định"; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường vai trò giám sát, phản biện và tạo đồng thuận xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Xác định đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.

Quan điểm thứ hai thể hiện bản chất của đổi mới mô hình phát triển đất nước và nội hàm của mô hình phát triển mới. Đổi mới mô hình phát triển đất nước trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới và xác định nội hàm của mô hình phát triển mới - mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người là trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể phát triển; nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính; lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm; lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển.

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Nghị quyết

Quan điểm thứ ba xác định cơ chế vận hành. Mô hình phát triển đất nước vận hành đồng bộ theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, Nhân dân làm chủ”; dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tổ chức phát triển trong không gian tích hợp, đa tầng, liên thông, tạo liên kết và lan tỏa. Xác định phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là then chốt; phát triển văn hóa và con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

Quan điểm thứ tư thể hiện định hướng khai thác, phát huy mọi nguồn lực cho đổi mới mô hình phát triển, hướng đến phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro; không ngừng bồi đắp năng lực quốc gia, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn.

Quan điểm thứ năm thể hiện phương thức thực hiện. Đổi mới mô hình phát triển phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện và phù hợp với từng giai đoạn; bảo đảm gắn kết chặt chẽ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất; lấy đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.

Về mục tiêu và tầm nhìn, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ đến năm 2030, hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước thu nhập trung bình cao, có công nghiệp hiện đại. Tạo được đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại; về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

Đến năm 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành phần trên các lĩnh vực. Đến năm 2045, hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập và các mô hình thành phần được vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả. Định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị gồm 7 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đề cập toàn diện từ nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, công tác xây dựng Đảng, tổ chức, cán bộ đến đổi mới quản trị thực thi nghị quyết của Đảng; xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, đổi mới quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội; xây dựng pháp luật rõ ràng, khả thi, đồng bộ, ổn định, dễ thực hiện, thích ứng nhanh; xác lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; xây dựng chính phủ số, dữ liệu dùng chung, nền tảng số; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thí điểm mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa.

Để triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động với 51 nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và 40 chỉ tiêu chủ yếu; xác định rõ lộ trình, sản phẩm đầu ra, phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức chủ trì theo dõi, thực hiện.

Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhận thức về vị trí, vai trò của biển tiếp tục được nâng lên; thể chế, chính sách, pháp luật và quản trị biển từng bước được hoàn thiện; kinh tế biển tiếp tục khẳng định là động lực quan trọng của nền kinh tế; đời sống Nhân dân vùng ven biển, hải đảo được cải thiện; quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển được tăng cường.

Bên cạnh những kết quả đạt được, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Thể chế, chính sách, quản trị biển và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn bất cập; kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường biển chưa đáp ứng yêu cầu; việc quản lý, khai thác không gian biển và nâng cao đời sống một bộ phận cư dân ven biển, hải đảo còn hạn chế.

Trước bối cảnh và yêu cầu mới, việc ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian phát triển quốc gia, đổi mới quản trị biển hiện đại và phát huy vai trò chiến lược của biển trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Một trong những nội dung trọng tâm của chuyên đề là những tư duy mới về phát triển quốc gia biển mạnh. Theo đó, Nghị quyết xác định chuyển mạnh từ tư duy phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đưa biển trở thành một trong những trụ cột quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Nghị quyết đồng thời xác định biển là không gian phát triển chiến lược, là nơi hình thành các cực tăng trưởng, các ngành kinh tế và động lực phát triển mới; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu cho phát triển biển; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông dựa trên dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia. Các chương trình hành động được yêu cầu phải cụ thể, bảo đảm "5 rõ”, gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.

Ông Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Nghị quyết xác định 5 nhóm quan điểm chỉ đạo. Trong đó khẳng định biển là không gian phát triển chiến lược, là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia; xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển lâu dài gắn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và quản trị biển hiện đại; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chính; phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường biển và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong xây dựng, phát triển quốc gia biển mạnh.

Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cùng 6 nhóm mục tiêu cụ thể về kinh tế; phát triển không gian biển và hạ tầng biển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; văn hóa, xã hội; quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Trình bày về nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, tập trung vào tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; hoàn thiện thể chế và đổi mới quản trị biển quốc gia; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; đột phá phát triển các ngành kinh tế biển; phát triển đồng bộ hạ tầng biển; bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển; xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh, tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về biển.

Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, một trong những nội dung trọng tâm của Nghị quyết là hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và đổi mới quản trị không gian biển quốc gia. Trong đó, quản trị không gian biển được xác định là nội dung cốt lõi, đột phá; quy hoạch không gian biển quốc gia phải bảo đảm thống nhất, đồng bộ, kết nối giữa đất liền, biển, vùng trời và các không gian mới, trở thành căn cứ để điều phối phát triển và phân bổ nguồn lực.

Đối với phát triển kinh tế biển, Nghị quyết đặt trọng tâm đột phá các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các lĩnh vực biển mới. Trong đó, phát triển ngành dầu khí và khai thác tài nguyên, khoáng sản biển; phát triển kinh tế hàng hải trở thành trụ cột quan trọng của kinh tế biển; xây dựng hệ thống cảng biển, đội tàu vận tải biển hiện đại, phát triển dịch vụ logistics hàng hải; phát triển công nghiệp đóng tàu, cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững; phát triển du lịch, dịch vụ biển, năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới.

Bài 1: Phải đặt con người vào vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực
 

Bình luận (0)

Lên đầu trang