(CATP) Cuối năm 1946, bà Nguyễn Thị Định được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành phụ nữ tỉnh Bến Tre. Giữa lúc đang hăng say làm công tác phụ nữ, đi thăm hỏi, chăm sóc bộ đội thì bà được lệnh Tỉnh ủy gọi về. Bà được giao một nhiệm vụ hoàn toàn không bao giờ dám nghĩ tới: Ra Bắc, gặp Bác Hồ và Chính phủ báo cáo tình hình sau Hiệp định Sơ bộ (06/3), đồng thời xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Năm ấy, Nguyễn Thị Định mới vừa 26 tuổi, cảm nhận gánh trên vai nhiệm vụ vượt sức mình. Bà vừa thấy vinh dự vừa sợ mình không làm nổi. Tỉnh ủy phân tích nhiều lý do để chọn Nguyễn Thị Định ra miền Bắc. Được động viên, bà chuẩn bị mọi thứ lên đường...
Đoàn miền Nam ra Bắc năm ấy còn có Đoàn Văn Trường - Tư lệnh khu 8, Ca Văn Thỉnh, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp... Tháng 3/1946, phái đoàn miền Nam Trung Bộ ra đi trên chiếc tàu đánh cá nghi trang, từ cửa biển Bến Tre ra Phú Yên. Nhiều người bị say sóng, ói mửa, nằm la liệt. Bà Ba Định và ông Ca Văn Thỉnh nhờ nhịn ăn, không nằm nên tỉnh táo, chịu đựng giỏi hơn. Từ Phú Yên, họ đi xe lửa ra Hà Nội. Lần đầu tiên đến thủ đô, bà vừa bỡ ngỡ vừa bồi hồi khôn xiết. Đoàn được bố trí ở ngôi nhà Bộ trưởng Bộ giáo dục. Ngay hôm sau, Bác Hồ đã đến thăm đoàn.
Nguyễn Thị Định vô cùng xúc động trước hình ảnh giản dị của vị Chủ tịch nước, trước tình yêu thương chan hòa của Bác dành cho các con. Bác ưu tiên cho người phụ nữ trong đoàn nói trước. Bà đứng lên, quá xúc động nên bao nhiêu điều định nói chạy đâu mất. Bác đỡ lời: "Thiếu súng đạn lắm phải không? Các cô các chú muốn xin bao nhiêu khẩu mang về". Bà sung sướng nói nhanh: "Dạ thưa Bác, nhiều lắm". "Bác nói: "Thế nào Trung ương và Chính phủ cũng có súng gửi về Nam. Nhưng nước ta nghèo, các cô các chú về, phải đánh Pháp cho giỏi, cướp lấy súng của nó dùng thì cái vốn đó mới nhiều".
Lời Bác dạy khắc sâu vào tâm trí người phụ nữ vượt biển ra Trung ương xin vũ khí cho Nam Bộ đánh giặc. Bà không ngờ sau này, bà đã vận dụng lời Bác dạy một cách hiệu quả ở chiến trường miền Nam. Còn lúc đó, phái đoàn miền Nam có nhiều người nhận nhiệm vụ mới, phải ở lại hoặc làm việc luôn ngoài Bắc, riêng Nguyễn Thị Định đi thẳng vào Quảng Ngãi - trụ sở của Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, nhận súng, tiền và tài liệu của Trung ương mang về cho Xứ ủy Nam Bộ. Bà được vào tận kho để nhận phần cho Khu 8, còn dư khẩu nào, bà năn nỉ xin thêm: "Tôi mang một cây mà bị lộ thì tôi cũng chết. Các anh cho tôi một ngàn cây, tôi đi một chuyến cho đáng".

Bà Nguyễn Thị Định - Phó Tổng Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Hội trưởng Hội Phụ nữ Giải phóng trong kháng chiến chống Mỹ
Chuyến trở về mới vô cùng cam go, nguy hiểm. Từ Quảng Ngãi, người và vũ khí còn được vận chuyển bằng xe lửa tới Tuy Hòa. Từ đó trở vào, địch đóng chiếm và kiểm soát gắt gao đường bộ. Để tải hàng chục tấn vũ khí, họ phải đi bằng đường biển. Làm cách nào để chất 12 tấn vũ khí xuống chiếc ghe chài mà không bị lộ là cả một vấn đề nan giải. Nhưng với tài tháo vát của bà Ba Định, gần một tuần, súng đạn đã nằm đầy ắp dưới các khoang thuyền, phía trên được chất đầy miệng chài, mạn thuyền chất đầy tĩn nước mắm. Đã xếp được "hàng" nhưng vấn đề nan giải tiếp theo là tìm người chèo, lái. Đoàn trở về chỉ có bà Nguyễn Thị Định, một cán bộ vô tuyến điện Trung ương, 2 chiến sĩ Vệ quốc đoàn.
Không ai trong số họ có kinh nghiệm đi biển. Cuối cùng, bà thuê được bốn người xứ Gò Công, do chèo ghe ra Quảng Ngãi bán gạo, bị máy bay bắn chìm xuồng, đang tìm đường về. Biết họ đi biển giỏi, bà quyết định thuê, trả cho mỗi người 1.000 đồng tiền công. Trước khi tiễn đoàn về Bến Tre, các đồng chí ở Quảng Ngãi còn kịp mua cho bà chiếc thuyền thúng, 5 người ngồi không chìm, phòng khi hữu sự. Một buổi chiều tháng 11/1946, nhân lúc gió chướng thổi, mây đen mù mịt, biển động mạnh, thuyền bà Ba Định nhổ neo chồm ra biển. Đó là kinh nghiệm rất quý trong kháng chiến, bởi gặp khó với trời còn hơn bị khó với địch. Con thuyền chống chọi với gió to sóng dữ, có lúc như bị mặt biển đen ngòm nuốt chững nhưng nhờ người lái vững tay chèo đã vượt qua tâm bão.
Nhưng khi gió yên sóng lặng rồi, con thuyền lại đối mặt với tàu kiểm tra của địch. Bà Nguyễn Thị Định tuy bên ngoài giữ vẻ điềm tĩnh nhưng đã sắp đặt sẵn kế hoạch. Trên ghe đã đặt sẵn 2 khẩu trung liên, cuối thuyền đã sẵn chất nổ. Trước hôm xuất phát, bà đã cùng đồng đội hạ quyết tâm "phải mang bằng được số vũ khí của Chính phủ, của Bác về tới Nam Bộ, dù có chết cũng không để vũ khí rơi vào tay địch". Giờ đây, chiếc tàu địch đang lù lù tiến về phía họ.
Cắt đặt xong mọi việc, bà ra lệnh cho tất cả vào khoang. Bà bưng thúng gạo ra ngồi lượm thóc rất tự nhiên, hai người bạn thuyền lấy lưới ra phơi. Bên ngoài điềm tĩnh nhưng trong đầu bà quay cuồng bao câu hỏi. Bà đặt nhiều tình huống có thể sẽ xảy ra. Bà lại thầm van vái: "anh Bích và các anh đã hy sinh ngoài Côn Đảo xin hãy phù hộ cho em". Bà vái cả Ông Bổn. Tàu địch trườn tới. Tim bà cơ hồ như bị đứng lại. Nhưng không biết vì lý do nào, tàu địch lại quay đầu ra. Cả đoàn người trên thuyền thở phào nhẹ nhõm.
Thoát được giặc, tàu lại mắc nạn mới. Nhìn thấy ngọn hải đăng từ xa, người lái thuyền reo lên: "Gần tới Cấp rồi, chỉ một ngày đêm nữa là tới Bến Tre!". Ai nấy đều phấn khởi, mạnh tay chèo, không ngờ con thuyền trồi lên cồn cát, rồi mắc cạn. Nước ròng, chờ thủy triều lên mất rất nhiều thời gian, chung quanh đầy tàu địch. Lúc này, bà Ba Định nhớ đến con thuyền thúng, bèn cùng một bạn thuyền bơi vào bờ. Họ bị bắt vì tình nghi là Việt gian. Sau khi biết rõ đó là vùng Việt Minh kiểm soát, bà mới trình giấy, nói rõ thân phận của mình. Nhờ sự giúp đỡ của họ, con thuyền lao đi, lướt qua cửa Thạnh Phong yên ổn, rồi chạy về rạch Heo - cơ quan huyện Thạnh Phú. Đặt chân lên mảnh đất quê hương, nước mắt bà Ba Định trào ra vì vui sướng. Bà đã hoàn thành nhiệm vụ Đảng giao.
Chuyến đi này không những đoàn cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ mà còn đặt cơ sở cho cho công tác tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà Ba Định vui sướng được trở về cơ quan phụ nữ, tiếp tục cuộc chiến đấu gian khổ, biết bao lần đối mặt với cái chết trong gang tấc nhưng nhờ mưu trí, dũng cảm, được Nhân dân che chở, bà đã vượt qua. Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết, bà Nguyễn Thị Định quyết định ở lại miền Nam, chỉ mình On - đứa con trai duy nhất của bà ra miền Bắc. Người mẹ đứng trên bờ tiễn con, lòng tràn trề niềm tin và hy vọng. Bà đâu ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn...
Nhắc lại chuyện bà Nguyễn Thị Định vượt biển, mang con tàu vũ khí đầu tiên đánh giặc, Anh hùng Nguyễn Văn Đức trầm ngâm: "Lịch sử lặp lại thời chống Mỹ. Những con tàu không số của chúng tôi đưa vũ khí vào Nam đã học cách con tàu chở vũ khí của cô Ba Định năm nào, cũng nghi trang, cũng giữ bí mật tới cùng. Và thật tự hào, xã Thạnh Phong cũng là nơi xuất phát con tàu mở đường ra Bắc thời chống Mỹ. Cũng giống như năm 1946, miền Nam đang "đói" vũ khí, sau cuộc đồng khởi, nên những con tàu đưa vũ khí vào Nam đầu tiên thời chống Mỹ có một ý nghĩa đặc biệt. Nếu vận chuyển vũ khí bằng đường biển thành công sẽ mở ra triển vọng mới cho Cách mạng miền Nam. Sứ mạng ấy rất thiêng liêng, thử thách những con người quả cảm, tài trí của Bộ đội cụ Hồ. Và tôi vinh dự là một người lính có mặt đầu tiên chuyến đi mở đường và đưa vũ khí vào Nam...".