Đồng bằng Sông Cửu Long: Không thể phát triển nếu thiếu liên kết vùng

Thứ Sáu, 17/04/2026 09:23

|

(CATP) Sau hơn 3 năm triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển và tăng cường liên kết vùng không còn là định hướng, mà đã trở thành đòi hỏi mang tính cấp thiết.

Có chuyển biến nhưng chưa bứt phá

Sáng 02/4/2026, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện 6 Nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội các vùng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045. Đây không chỉ là bước rà soát giữa kỳ, mà còn là dịp nhìn lại hiệu quả tổ chức không gian phát triển quốc gia theo tư duy phát triển vùng.

Từ thực tiễn triển khai cho thấy, với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vấn đề không còn nằm ở tiềm năng hay lợi thế, mà là năng lực liên kết. Muốn tiếp tục giữ vai trò trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, các địa phương trong vùng cần phải chuyển từ phát triển riêng lẻ sang hợp lực theo chuỗi giá trị, tạo sức mạnh chung cho toàn vùng.

Với khoảng 3,8 đến 4 triệu héc-ta đất gieo trồng lúa, mỗi năm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sản xuất trên 24 triệu tấn, chiếm hơn 50% sản lượng cả nước; đồng thời đóng góp gần 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và từ 70 - 90% kim ngạch xuất khẩu gạo. Những con số này khẳng định rõ vị thế chiến lược của vùng trong nền kinh tế.

Nuôi cá tra xuất khẩu là thế mạnh của vùng ĐBSCL

Sau hơn 3 năm triển khai Nghị quyết số 13, bức tranh kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá, trong đó riêng TP.Cần Thơ, trung tâm động lực của vùng, ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2024 đạt khoảng 7,12%, tiếp tục giữ vai trò đầu tàu dẫn dắt phát triển.

Cùng với đó, hạ tầng giao thông được tập trung đầu tư với quy mô lớn, tạo chuyển biến rõ rệt về kết nối. Tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau dài khoảng 110km, tổng mức đầu tư hơn 27.500 tỷ đồng đang được triển khai; tuyến Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng dài khoảng 188km, tổng vốn đầu tư trên 44.600 tỷ đồng hình thành trục ngang chiến lược kết nối vùng biên giới với cảng biển; tuyến Mỹ Thuận - Cần Thơ dài gần 23km, tổng vốn hơn 4.800 tỷ đồng đã đưa vào khai thác. Các trục dọc và trục ngang này đang từng bước mở ra không gian phát triển mới cho toàn vùng.

Tuy nhiên, những chuyển biến này vẫn chưa tạo được sức bật tương xứng với tiềm năng. Tốc độ tăng trưởng của toàn vùng những năm gần đây chỉ dao động khoảng 5,5 - 6%/năm, thấp hơn mục tiêu đề ra. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, trong đó công nghiệp chỉ chiếm khoảng 8,5 - 9% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, chủ yếu vẫn là chế biến sơ cấp, giá trị gia tăng thấp. Chi phí logistics vẫn ở mức cao, khoảng 20 - 25% giá thành sản phẩm, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh. Những hạn chế này cho thấy hiệu quả phát triển toàn vùng chưa được phát huy tương xứng.

Tái cấu trúc không gian vùng

Tư duy địa phương vẫn còn chi phối mạnh khiến các tỉnh, thành khai thác lợi thế theo hướng riêng lẻ, thiếu một cấu trúc liên kết thống nhất theo không gian vùng. Hệ quả thể hiện rõ qua hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh. Dù là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, nhưng lợi thế về sản lượng không chuyển hóa tương xứng thành lợi thế thị trường.

"Chi phí logistics cao không chỉ làm tăng giá thành, mà đang trực tiếp làm suy giảm sức cạnh tranh của ngành thủy sản", ông Doãn Tới (Tổng giám đốc Tập đoàn Nam Việt) nhận định, đồng thời cho rằng nguyên nhân cốt lõi là thiếu liên kết vùng nguyên liệu và hệ thống logistics chưa đồng bộ.

Bình quân mỗi năm ngành hàng cá tra mang về cho đất nước trên 2 tỷ USD và giải quyết trên 500.000 lao động có việc làm ổn định

Ở cấp độ vĩ mô, sự phân tán trong tổ chức phát triển khiến nguồn lực đầu tư bị chia nhỏ, hiệu quả chưa cao. Dù nhiều dự án hạ tầng lớn được triển khai nhưng kết nối tổng thể chưa đồng bộ, chưa hình thành được các hành lang kinh tế có tính dẫn dắt. "Cần chuyển từ tư duy quản lý theo địa giới hành chính sang quản trị theo không gian phát triển vùng", ông Nguyễn Thanh Nghị (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương) nhấn mạnh.

Trước yêu cầu phát triển mới, ĐBSCL cần tổ chức lại toàn bộ không gian phát triển theo hướng tích hợp, liên kết và đồng bộ. Đây không chỉ là điều chỉnh chính sách, mà là tái định hình mô hình tăng trưởng của cả vùng. Quy hoạch vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác lập định hướng hình thành các hành lang kinh tế, trung tâm động lực và hệ thống hạ tầng liên kết. Mục tiêu tăng trưởng được đặt ra khoảng 7,7%/năm và hướng tới 9,5% trong giai đoạn tiếp theo, gắn với phát triển mạnh hệ thống cao tốc, cảng biển và logistics.

Các tuyến cao tốc trọng điểm như Cần Thơ - Cà Mau, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng khi hoàn thành sẽ tạo trục kết nối xuyên suốt từ biên giới ra biển, góp phần giảm chi phí logistics từ mức 20 - 25% hiện nay xuống gần mức bình quân cả nước. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn vùng.

Song song đó, việc tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị là yêu cầu cấp thiết. Với hơn 24 triệu tấn lúa và gần 65% sản lượng thủy sản cả nước, nếu được liên kết chặt chẽ từ sản xuất đến chế biến và thị trường, ĐBSCL hoàn toàn có thể nâng cao giá trị gia tăng và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là cơ chế điều phối vùng. Một thiết chế đủ mạnh, có khả năng điều tiết nguồn lực, định hướng quy hoạch và dẫn dắt đầu tư sẽ là điều kiện tiên quyết để liên kết vùng trở thành động lực phát triển thực sự.

Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW, các ý kiến tại hội nghị đều thống nhất rằng, để tháo gỡ điểm nghẽn phát triển của ĐBSCL, yêu cầu đặt ra không chỉ là bổ sung nguồn lực, mà quan trọng hơn là hoàn thiện thể chế và tổ chức lại không gian phát triển theo hướng liên kết thực chất.

ĐBSCL - vùng sản xuất lúa trọng điểm của cả nước

Ông Nguyễn Tuấn Anh (Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ) đề nghị Trung ương tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của địa phương trong quản lý đầu tư, quy hoạch và đất đai, qua đó tạo dư địa chủ động trong điều hành phát triển. Đồng thời, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý để triển khai các mô hình đột phá như khu thương mại tự do và trung tâm liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản vùng, nhằm hình thành các hạt nhân dẫn dắt chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh...

Đồng quan điểm về yêu cầu hoàn thiện thể chế, ông Hồ Văn Mừng (Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang) đề xuất Trung ương sớm ban hành cơ chế, chính sách đặc thù phát triển kinh tế biển; đồng thời có chính sách vượt trội đối với kinh tế cửa khẩu nhằm thu hút đầu tư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và giảm nghèo khu vực biên giới. Việc ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông lưỡng dụng, phục vụ đồng thời mục tiêu phát triển kinh tế và nhiệm vụ quốc phòng, cũng được xác định là giải pháp quan trọng để gia tăng tính kết nối và khả năng thích ứng của vùng.

Đáng chú ý, một yêu cầu mang tính căn cơ được đặt ra là cần xem xét điều chỉnh hợp lý diện tích đất lúa tại ĐBSCL, tạo dư địa cho phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, bởi nếu tiếp tục duy trì tỷ trọng nông nghiệp quá cao sẽ khó đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%.

Ở cấp độ điều phối, việc đổi mới cơ chế quản trị vùng theo hướng chuyển từ "phối hợp" sang "điều hành thực chất" thông qua Hội đồng Điều phối vùng được xem là điều kiện then chốt. Trong đó, cần xác định rõ thẩm quyền của cơ quan điều phối trong quyết định các dự án liên vùng; xây dựng hệ thống dữ liệu vùng thống nhất trên nền tảng số để các địa phương cùng khai thác, sử dụng.

Nhìn từ thực tiễn triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW có thể thấy rõ rằng, rào cản lớn nhất của ĐBSCL không còn nằm ở tiềm năng hay nguồn lực, mà ở cách tổ chức phát triển và năng lực liên kết vùng. Khi những rào cản về thể chế, hạ tầng và điều phối chưa được tháo gỡ một cách thực chất, mọi lợi thế về sản lượng và quy mô vẫn khó chuyển hóa thành sức cạnh tranh.

Vấn đề đặt ra không còn là có liên kết hay không, mà là liên kết bằng cơ chế nào, ai là chủ thể dẫn dắt và trách nhiệm được phân định ra sao. Khi không gian phát triển được tổ chức lại theo hướng tích hợp, khi các nguồn lực được điều phối hiệu quả và khi các địa phương thực sự hành động như một chỉnh thể thống nhất, ĐBSCL mới có thể chuyển từ vai trò "trụ đỡ” sang một cực tăng trưởng chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Không thể làm lúa mỗi nơi một kiểu

"Nếu mỗi nơi làm lúa một kiểu sẽ không thể có thương hiệu gạo chung cho cả vùng, vì vậy muốn nâng giá trị hạt gạo, vùng buộc phải chuyển từ "sản xuất nhiều" sang "tổ chức tốt", thống nhất tiêu chuẩn và liên kết chuỗi từ đồng ruộng đến thị trường. Nếu không giải được bài toán này, hạt gạo Việt khó thoát khỏi vòng luẩn quẩn sản lượng cao nhưng giá trị thấp", bà Trần Thị Lan Thanh (doanh nhân xuất khẩu gạo tại An Giang) nhận định.

Nuôi giỏi nhưng chưa làm chủ cuộc chơi

"Thực tế cho thấy, liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp vẫn mang tính thời vụ, thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro và minh bạch giá. Khi chuỗi giá trị chưa được thiết kế theo hướng ràng buộc lợi ích, người nuôi khó chuyển từ "sản xuất theo kinh nghiệm" sang "sản xuất theo tín hiệu thị trường". Nếu không tháo gỡ rào cản này, cá tra dù giữ sản lượng vẫn khó nâng giá trị. Vấn đề không phải nuôi nhiều hay ít, mà là ai đang nắm quyền định giá và điều phối chuỗi, trong khi người nuôi vẫn đứng ngoài vị trí đó”, ông Nguyễn Văn Cường (hộ nuôi cá tra lâu năm ở An Giang) cho biết.

Bình luận (0)

Lên đầu trang