Cà Mau: Hàng ngàn héc-ta rừng bị tàn phá do đâu?

Thứ Ba, 23/06/2026 09:34

|

(CATP) Tỉnh Cà Mau là địa phương có 3 mặt giáp biển, người dân ở vùng đất tận cùng cực Nam Tổ quốc nay đang sống trong cảnh thấp thỏm lo âu khi những cơn sóng biển cứ lớn dần từng ngày, đánh thẳng vào đất liền khiến những vạt rừng ven biển bị cuốn trôi. Còn trong đất liền, hàng trăm héc-ta rừng tràm trong khu bảo tồn U Minh Hạ cũng bị suy kiệt, chết dần ở mức báo động.

Rừng U Minh chết dần

Vườn quốc gia (VQG) U Minh Hạ (xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau) là một trong 3 điểm bảo tồn đất ngập nước tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được UNESCO công nhận là một trong 3 vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau. Vườn có đặc trưng là hệ sinh thái rừng tràm thuộc họ sim, hình thành trong điều kiện ngập nước, úng phèn trên đất than bùn.

Trong tổng diện tích vùng lõi trên 8.527ha, có hơn 2.593ha thuộc Phân khu Bảo tồn hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn và hơn 5.190ha thuộc phân khu phục hồi, sử dụng bền vững hệ sinh thái ngập nước. Vì là khu vực rừng nguyên sinh nên hệ sinh thái tại đây được bảo vệ nghiêm ngặt, diễn tiến tự nhiên và nghiêm cấm mọi sự tác động của con người. Thế nhưng, hàng trăm héc-ta rừng tràm nơi đây hiện đang suy kiệt nghiêm trọng, nhiều khu vực cây tràm bản địa chết và đổ ngã diện rộng, có nguy cơ chuyển sang hệ sinh thái khác.

Hàng trăm héc-ta rừng ở Cà Mau bị tàn phá bởi sóng biển

Theo ghi nhận thực tế của chúng tôi, chất lượng cây rừng tại khu bảo tồn nghiêm ngặt của VQG U Minh Hạ đang bị suy kiệt đáng kể. Tình trạng này xảy ra chủ yếu tại những khu vực vùng trũng thấp có thời gian ngập nước kéo dài khoảng 6 tháng.

Ông Lê Thanh Dũng (Phó giám đốc Vườn quốc gia U Minh Hạ) cho biết, theo diễn thế tự nhiên, hệ sinh thái cây tràm bản địa dần suy thoái và nhường chỗ cho thảm thực vật tự nhiên. Nhiều diện tích rừng tràm mất dần, hình thành nên những "trảng" lớn chỉ còn lại các loại cỏ, năng, sậy, dớn. Hiện tại, khu vực suy thoái ước tính khoảng 200 - 300ha, tập trung tại tiểu khu 1 và tiểu khu 4. Nếu cây tràm không thể tiếp tục phát triển, nơi đây sẽ chuyển sang các hệ sinh thái khác.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện (chuyên gia độc lập về sinh thái vùng ĐBSCL) cho hay, nguyên nhân chính là sự thay đổi chế độ ngập - khô tự nhiên của hệ sinh thái nơi đây. Sau vụ cháy lớn năm 2002 làm thiệt hại khoảng 4.300 héc-ta rừng tràm, công tác quản lý chuyển sang ưu tiên giữ nước để giảm nguy cơ cháy. Hệ thống kênh bàn cờ sau đó được xây dựng phục vụ phòng cháy chữa cháy.

Dù giúp tăng khả năng ứng phó khi xảy ra cháy rừng, hệ thống này cũng làm thay đổi cơ chế vận động tự nhiên của nước trong lớp than bùn. Các tuyến kênh làm tăng thất thoát nước do bốc hơi và chia cắt dòng chảy ngầm. Vào mùa khô, kênh còn hút nước từ than bùn ra ngoài, khiến lớp than bùn khô nhanh hơn và nguy cơ cháy gia tăng. Để đối phó, mực nước tiếp tục được duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, địa hình không đồng đều khiến nhiều vùng trũng ngập kéo dài, trở thành nguyên nhân tràm chết hàng loạt.

Theo chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện, rừng tràm U Minh vốn thích nghi với chu kỳ khoảng 6 tháng ngập nước và 6 tháng khô mỗi năm. Cây tràm có thể sống trong điều kiện ngập, nhưng vẫn cần thời gian khô để bộ rễ phục hồi và hấp thu dinh dưỡng. Khi bị ngập quanh năm, rễ cây thiếu oxy, suy yếu rồi chết dần. Những dấu hiệu này đã được cảnh báo từ nhiều năm trước.

Nhiều diện tích rừng tràm ở Vườn Quốc gia U Minh đang chết dần

Thống kê năm 2007, khoảng 35% diện tích rừng tràm đã chết do ngập nước kéo dài. Chưa kể nước ngập lâu còn làm suy thoái lớp than bùn - nền tảng của hệ sinh thái U Minh. Khi rễ cây chết, nước than bùn tích tụ, ảnh hưởng quá trình quang hợp. Lớp than bùn dần mất kết dính khiến nhiều cây bật gốc, đổ ngã vào mùa khô. Nếu tình trạng này tiếp diễn, nhiều khu vực rừng tràm có thể bị thay thế bởi các loài chịu ngập như dớn, sậy và năn.

Để giữ rừng tràm, theo ông Thiện, giải pháp căn cơ là khôi phục chế độ ngập - khô theo mùa, gần với điều kiện tự nhiên của hệ sinh thái U Minh. Trong mùa khô, cần duy trì mực nước ngầm không thấp hơn 50cm dưới mặt than bùn để giữ độ ẩm và hạn chế nguy cơ cháy. Cuối mùa mưa, rừng cần được bảo đảm lượng nước dự trữ phù hợp để bù cho phần thất thoát trong mùa khô. Ngoài ra, do địa hình than bùn không đồng đều, việc quản lý nước cần thực hiện theo từng ô riêng biệt thay vì áp dụng một mực nước chung cho toàn bộ vườn quốc gia. Vườn quốc gia nên nghiên cứu đắp chặn 2 đầu các tuyến kênh nhằm giảm thất thoát nước, hạn chế quá trình oxy hóa than bùn, đồng thời xây dựng hệ thống quan trắc và điều tiết nước phù hợp.

Còn theo Tiến sĩ Dương Văn Ni (chuyên gia về sinh thái đất ngập nước và quản lý tài nguyên nước ĐBSCL), việc giữ nước kéo dài, đặc biệt ở những khu vực nước đọng không có dòng chảy là nguyên nhân chính khiến cây tràm chết hàng loạt. Tại những khu vực tràm chết trên diện rộng, hệ sinh thái có thể dần chuyển thành đầm lầy với sự xuất hiện của các loài thực vật thủy sinh, sau đó là dớn và sậy. Khi đó, khu vực này không còn là rừng tràm. Để hình thành lại một quần xã cây thân gỗ có thể mất từ 50 - 70 năm. Việc bảo tồn rừng và đất ngập nước cần dựa trên quy luật tự nhiên của hệ sinh thái, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu phòng, chống cháy rừng.

Dân phập phồng bởi sóng biển

Do tác động cực đoan của biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng trong thời gian dài, đai rừng phòng hộ ven biển Đông đang bị thu hẹp và mỏng dần, từ đó khiến cuộc sống người dân cũng trong cảnh phập phồng, lo âu.

Cây rừng bật gốc, chết khô

Chỉ tay về những vạt rừng ở phía bờ biển Đông bị sóng đánh bật rễ, gãy đổ, ông Nguyễn Văn An (ngụ xã Tân Thuận, tỉnh Cà Mau) rầu rĩ: "Chúng tôi rất lo cho tính mạng, tài sản của gia đình mình bị những cơn sóng biển cuốn trôi trong thời gian tới".

Theo ghi nhận tại bờ biển từ Tân Thuận hướng về Hố Gùi, tình trạng sạt lở đang ở mức đặc biệt nguy hiểm với chiều dài khoảng 9,1km. Khi bước vào mùa mưa bão, tổ hợp thiên tai gồm nước dâng, sóng to và gió lớn đã khiến các vị trí sạt lở này tiếp tục khoét sâu vào đất liền với tốc độ tăng mạnh.

Nói về tình trạng sạt lở ở địa phương trong những năm qua, ông Tạ Hoàng Nam (Phòng Kinh tế xã Tân Thuận) cho biết: Sạt lở đang diễn ra với tốc độ và quy mô vô cùng phức tạp. Thời điểm gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh, cộng với triều cường dâng cao, sóng biển tàn phá nghiêm trọng các đai rừng phòng hộ. Có những năm biển "ăn" sâu vào đất liền từ 30-40m, cuốn trôi nhiều diện tích rừng xung yếu, đe dọa trực tiếp đến an toàn của các khu dân cư”.

Khảo sát của các cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau cho thấy, toàn tuyến bờ biển Đông hiện có gần 70km bị sạt lở nghiêm trọng. Trung bình mỗi năm, Cà Mau mất từ 250-300 héc-ta đất bãi bồi, đất rừng, tập trung chủ yếu ở các xã ven biển như: Tân Thuận, Tân Tiến, Tân Ân, Tam Giang...

Ông Phạm Thanh Hải (Phó chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau) nhận định, biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp và sâu rộng đến toàn bộ lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và môi trường của địa phương này. Đối với lĩnh vực lâm nghiệp và môi trường, tình trạng xói lở bờ biển diễn ra ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt tại khu vực ven biển Đông và ven biển Tây của tỉnh Cà Mau, làm suy giảm diện tích rừng phòng hộ ven biển, ảnh hưởng đến vai trò "lá chắn xanh" bảo vệ đất liền và cộng đồng dân cư.

Tỉnh Cà Mau hiện sở hữu hơn 102.000ha rừng ngập mặn, chiếm khoảng 77% diện tích rừng ngập mặn của toàn vùng ĐBSCL, nhưng đai rừng phòng hộ ngày càng mỏng dần, nguy cơ vỡ đê, mất đất là hiện hữu.

Trước những diễn biến khó lường của thiên tai, tỉnh Cà Mau xác định không thể chỉ thụ động ứng phó mà phải quyết liệt, chủ động đi trước một bước bằng việc lồng ghép các nhóm giải pháp linh hoạt, thích ứng nhằm bảo vệ tính mạng, ổn định sản xuất và sinh kế bền vững cho người dân, đặc biệt là cư dân vùng ven biển.

Cụ thể về giải pháp phi công trình, UBND các xã, phường cử lực lượng chức năng xuống hiện trường sạt lở để hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả, di dời tài sản và bảo đảm bố trí nơi ở an toàn cho các hộ bị ảnh hưởng. Đồng thời, chính quyền địa phương sẽ lắp đặt biển báo khu vực sạt lở nguy hiểm để người dân chủ động phòng tránh; trồng rừng ở những khu vực đã có bãi bồi để rừng lấn dần ra biển.

Về giải pháp công trình, Cà Mau đã phê duyệt đề án phòng chống sạt lở với tổng nhu cầu vốn cho giải pháp công trình là hơn 26.820 tỷ đồng, với chiều dài đê kè dự kiến đầu tư khoảng 300km, bao gồm 3 nhóm công trình chính, gồm nhóm công trình kè khôi phục đường bờ biển, nhóm công trình bảo vệ bờ biển, nhóm công trình bảo vệ bờ sông.

Các chuyên gia cho hay, việc khôi phục rừng phòng hộ ven biển không chỉ là tái tạo màng "lá chắn sóng" tự nhiên, mà còn mở ra sinh kế bền vững cho người dân, vừa giúp phục hồi rừng ngập mặn, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, vừa góp phần thúc đẩy phát triển bền vững của địa phương.

Bình luận (0)

Lên đầu trang