1. Lê Vĩnh Hòa (bút danh) tên khai sinh là Đoàn Thế Hối, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1932 tại xã Mỹ Hiệp, huyện Phú Mỹ, tỉnh Bình Định (cũ). Từ lúc còn thơ ấu, ông đã theo cha (Đoàn Thế Cần) vào lập nghiệp tại xã Vĩnh Hòa, tỉnh Rạch Giá (sau 1975 là xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cũ, nay là tỉnh An Giang). Có lẽ bút danh Lê Vĩnh Hòa chính là ân nghĩa với quê hương thứ hai, nơi ông đã sống trọn tuổi thơ ở đó.
Lê Vĩnh Hòa nhiệt thành yêu nước, sớm giác ngộ Cách mạng, mới 15 tuổi đã tham gia công tác thiếu nhi ở tỉnh Rạch Giá. Năm 1948 - 1949, ông vào học trường Trung học kháng chiến Nam Bộ; mãn khóa học (1950), ông về làm việc văn phòng Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây. Năm 1951, ông được phân công đến tỉnh Sóc Trăng công tác và bắt đầu sáng tác thơ văn (vợ con nhà văn định cư ở tỉnh Sóc Trăng, nay là TP.Cần Thơ). Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), Lê Vĩnh Hòa ở lại Nam Bộ hoạt động bí mật, ông phụ trách công tác vận động thanh niên, học sinh và được bố trí vào học trường trung học tại thị xã Rạch Giá (lớp đệ lục) và mang tên giả là Trần Văn Thành. Năm 1958, Lê Vĩnh Hòa bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam, lưu đày qua các nhà tù Sóc Trăng, Thủ Đức, Chí Hòa, Phú Lợi. Năm 1963, thoát khỏi tù ngục, ông trở về hoạt động Cách mạng ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ; thường xuyên có mặt trong các đơn vị quân chủ lực để sống, chiến đấu và viết. Sức viết của Lê Vĩnh Hòa có thể nói khó ai sánh kịp. Ông viết trên đường hành quân, viết tại chiến hào, viết lúc tạm nghỉ giữa hai trận đánh, viết khi trận địa chưa dứt tiếng súng. Đến nay, nhiều tác phẩm của ông vẫn chưa sưu tập hết được.

Lê Vĩnh Hòa là nhà văn - nhà báo xuất sắc thời chống Mỹ
Lê Vĩnh Hòa hy sinh trong trận đánh ác liệt tại kinh Thanh Thủy, xã vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần thơ vào ngày 15 tháng 02 năm 1967 (tức ngày mùng 7 Tết Đinh Mùi). Ông ra đi khi tài năng đang độ chín, sức sáng tạo dồi dào; để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình và đông đảo bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp. Lê Vĩnh Hòa viết truyện ngắn, ký, tản văn, sáng tác thơ; ở thể loại nào ông cũng để lại dấu ấn riêng. Phần lớn tác phẩm của ông được in trong Lê Vĩnh Hòa tuyển tập (1986). Tuyển tập gồm 2 phần: văn và thơ; phần văn có 60 truyện ngắn và ký; phần thơ có 15 bài. Ngoài ra, ông còn có 20 tác phẩm (thơ, truyện, ký) đã đăng báo; ấy là chưa tính nhiều bản thảo được viết nơi chiến trường bị thất lạc. Ngần ấy tác phẩm và những gì có được trong đó cũng đủ khẳng định đóng góp của Lê Vĩnh Hòa vào nền văn học chống Mỹ không hề nhỏ, ông xứng đáng được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, hoặc một giải nào đó tương xứng.
2. Sự nghiệp sáng tác của Lê Vĩnh Hòa chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất: - Từ 1950 đến 1962, đây là thời kỳ Lê Vĩnh Hòa xuất hiện và khẳng định tài năng qua những tác phẩm in trên các tờ báo phát hành trong vùng đô thị miền Nam (Nhân dân miền Nam, Tiến thủ, Gió mới, Nhân loại...). Bằng thủ pháp “lập lờ” tinh tế, kín đáo đầy ẩn ý; bằng lối diễn đạt trong sáng, giàu sức gợi cảm, những sáng tác của Lê Vĩnh Hòa đã qua được lưới kiểm duyệt khắt khe của chính quyền Sài Gòn, khơi dậy tình thủy chung với đất nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc; đồng thời, luồn vào đó lòng căm thù đế quốc xâm lược, cổ vũ tinh thần đấu tranh vì một Việt Nam hòa bình, thống nhất (Màu áo quê hương, Đẹp Hậu Giang, Xuân nhân loại, Tiếng hú rừng khuya...). Truyện ngắn Lúc chiều xuống miêu tả đến nao lòng cảnh những phu khuân vác đói nghèo cơ cực, làm việc quá sức, giữa đường nhiều người phải gục xuống ho ra máu cốt để kiếm vài chục bạc trang trải trong ba ngày Tết. Truyện Thằng Bót gợi người đọc xót xa, đau lòng trước thân phận những cháu bé chết oan giữa chốn đô thành chỉ vì cha mẹ quá nghèo không lo nổi tiền thuốc. Truyện Đôi bạn tả những đứa bé mồ côi sống vất vưởng trong xó xỉnh của phố phường... Đó là những bức tranh xám xịt về xã hội đô thị miền Nam dưới thời Mỹ - Diệm.
Tranh thủ khuynh hướng phản chiến đang dấy lên trong đời sống văn học vùng đô thị miền Nam lúc bấy giờ, Lê Vĩnh Hòa viết Chiếc áo thiên thanh, Tiếng hú rừng khuya rất có tác dụng lên án chiến tranh phi nghĩa do Mỹ gây ra mà nạn nhân không ai khác lại chính là đồng bào ta, giống nòi Lạc Việt của ta; trong đó có cả những người lầm đường lạc lối cầm súng đánh thuê cho giặc. Trong truyện Trăng lu, với giọng văn nhỏ nhẹ, tế nhị mà sâu sắc, Lê Vĩnh Hòa vạch trần âm mưu của giặc đã làm đồi trụy tâm hồn tuổi trẻ và bóp chết ngành nghề thủ công truyền thống. Truyện của Lê Vĩnh Hòa thường ngắn gọn, cô đọng, kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và hài hước, giữa yêu thương, cảm thông với oán hận, căm thù. Không chỉ ở thể loại truyện, ký, Lê Vĩnh Hòa còn gây chấn động với hai bài tiểu luận xuất sắc: “Vấn đề thi cử” và “Vấn đề văn hóa ngày nay” đăng trên báo Quyền sống (Sài Gòn).

Những bản thảo viết vội lúc nghỉ ngơi trên đường hành quân
3. Thời kỳ thứ hai: - Từ năm 1963 cho đến khi hy sinh (1967). Thời kỳ này Lê Vĩnh Hòa hoạt động rất tích cực, sôi nổi cả văn học lẫn báo chí. Ông thường cùng các đoàn quân chủ lực đánh giặc trên khắp chiến trường Tây Nam Bộ. Có lẽ với ông, chỉ có trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận mới có cảm hứng sáng tạo, mới đem nghệ thuật phục vụ kịp thời cho cuộc kháng chiến và như thế văn học mới trở nên hữu ích. Những trang viết của ông như những thước phim vô giá ghi lại những khoảng khắc ác liệt nhất của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, làm ngời lên Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng trên vùng đất Thành đồng Tổ Quốc; giọng văn bừng bừng, sục sôi như tiếng trống, điệu kèn xung trận. Cảm hứng dấn thân - nhập cuộc quán xuyến trong toàn bộ sáng tác của ông; đồng thời, xen lẫn với chất giọng sử thi - tráng kiệt là khúc ca trữ tình đằm thắm, thủy chung. Những: Nắng mùa xuân, Qua vườn măng, Sống với Đông Phước, Những ngày tháng chạp, Trông ra tiền tuyến, Những người cùng xóm, Mấy trang nhật ký chiến hào, Chuyện người săn máy bay, Thép xung kích... được coi như những truyện ký xuất sắc, thể hiện rõ nét sự chuyển đổi từ chất giọng cảm thương - thống thiết, hài hước - dí dỏm sang chất giọng ngợi ca - tôn kính, trữ tình - lạc quan. Văn Lê Vĩnh Hòa dân gian mà bác học, hào sảng mà chân tình; ông ít sử dụng bút pháp khoa trương, ước lệ. Con người trong văn Lê Vĩnh Hòa bình dị, đời thường nhưng cũng hết mực cao cả, phi thường. Những con người ấy là sản phẩm tinh thần đặc biệt trong một thời điểm lịch sử đặc biệt, mang đậm dấu ấn đặc trưng của vùng sông nước, thổ ngơi Nam Bộ.
4. Về phương diện một nhà báo: Lê Vĩnh Hòa là cây bút xông xáo trên mọi mặt trận để có những trang viết sắc sảo, kịp thời, đầy ấn tượng. Ông kết hợp tư duy nghệ thuật với phong cách báo chí để tăng thêm tính thẩm mỹ trong từng bài viết, góp phần thu hút đông đảo bạn đọc cho tờ báo. Đặc biệt, Lê Vĩnh Hòa rất có trách nhiệm trong nghề nghiệp, Ban biên tập báo Giải phóng miền Tây luôn tin tưởng, quý mến ông. Hồi ký truyền thống Tiểu ban Thông tấn báo chí, Ban Tuyên huấn Khu ủy Tây Nam Bộ viết: “Nhà báo, nhà văn Lê Vĩnh Hòa vốn là cán bộ Tiểu ban Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Khu ủy, được cử vào Đoàn thông tấn báo chí phối hợp công tác. Anh hoạt bát, vui tính, đã có nhiều tác phẩm văn học được bạn bè gần xa mến mộ. Lê Vĩnh Hòa là phóng viên săn tin nhanh có hạng, nhất là đề tài về bộ đội. Đặc biệt, kỷ luật nghề nghiệp rất cao, hễ Lê Vĩnh Hòa hứa viết thì tòa soạn yên chí, tin tưởng sẽ có tác phẩm, đúng ngày hẹn” (trích trong Những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa thời chống Mỹ, tập II, Xí nghiệp in Cần Thơ năm 2000, tr.68).
Lê Vĩnh Hòa là nhà văn, nhà báo xuất sắc thời chống Mỹ. Ông đủ tầm độ của một tài năng tỏa sáng, giàu nhiệt huyết cách mạng, sống tận cùng với đất nước, Nhân dân. Sáng tác của Lê Vĩnh Hòa không chỉ có giá trị tư liệu, giá trị tuyên truyền mà đích thực có giá trị nghệ thuật. Để có những trang viết sinh động, giàu chất hiện thực như thế, ông đã sống và chết như một Anh hùng. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lê Vĩnh Hòa trở thành tấm gương cao đẹp về nhà văn - chiến sĩ, về ý thức, trách nhiệm của người cầm bút. Độ lắng thời gian cho phép chúng ta thấy rõ điều đó.
TS. Nguyễn Bá Long (Trường ĐH Cửu Long)