Khi nước nổi gọi mùa
Nắng sớm từ cánh đồng đầu nguồn lùa qua hàng hiên mang theo mùi phù sa ngai ngái đọng lại sau cơn mưa đêm. Bụi điên điển ven rạch trổ bông vàng rực như thắp sáng cả khoảng đồng. Trên con rạch nhỏ trước nhà, chiếc ghe chở lúa nổ máy chầm chậm xuôi dòng, để lại sau lái vệt nước loang như dải lụa bạc. Tiếng đàn vịt chạy đồng "quạc quạc" hòa cùng tiếng chim gọi nắng làm rộn ràng buổi sớm quê nhà sau giấc ngủ dài.
Ông Bảy Hổ chống nhẹ hai bàn tay gân guốc lên đầu gối, chậm rãi đứng dậy nhìn về phía cánh đồng mênh mang, đôi mắt mờ theo năm tháng vẫn ánh lên màu ký ức, như thể phía cuối chân trời kia không phải những thửa ruộng đang vào vụ, mà là biển nước của gần trăm năm trước. Bên cạnh ông, thằng Lành nép sát vào vai nội, đôi mắt tròn xoe dõi theo hướng nhìn xa thẳm. Ông Bảy mỉm cười, bàn tay run run vuốt chiếc roi trâu nhẵn bóng, thì thầm: "Lũ bây giờ hiền lắm, cháu à! Không như hồi ông còn nhỏ, nước về như con thú dữ tràn tới, nuốt hết bờ bãi, vườn tược, ruộng đồng, chỉ chừa lại những ngọn cây cao để người ta biết quê mình vẫn còn ở đó”.
Ngày ấy, mỗi khi tháng Bảy âm lịch vừa chạm ngõ, bầu trời miền Tây đã đổi màu. Mây từ cuối nguồn sông Mekong lững thững kéo về, đổ bóng xuống cánh đồng rộng đến tận chân trời. Chỉ sau vài đêm, nước từ đầu nguồn tràn xuống lấp đầy từng con kinh, bờ mẫu, rồi lặng lẽ nối liền ruộng với sông, sông với đồng, đồng với rừng, biến cả quê hương thành biển nước mênh mông.

Đồng bằng Sông Cửu Long đã thưa dần những
mùa len trâu trong lũ
Giữa không gian ấy, rừng tràm hiện lên như những người lính già đứng gác biên cương, thân bạc màu mưa nắng, rễ bám sâu vào lòng đất mẹ, mặc cho nước dâng đến đâu vẫn lặng lẽ giữ màu xanh cho xứ sở. Gió lùa qua tán lá tạo nên âm thanh vi vu như tiếng ai đang kể chuyện về những mùa lũ đã qua.
Con nước dâng đến đâu, sự sống cũng theo đó mà sinh sôi. Bông điên điển vàng rực hai bên bờ như những đốm nắng trôi trên mặt nước, cá linh theo dòng phù sa về ngập xuồng đầy lưới, đem theo vị ngọt của sông và niềm vui dưới những mái nghèo. Nước về mang theo phù sa, cá tôm, nhưng cũng ẩn chứa những thách thức khắc nghiệt. Người quê ông Bảy chưa bao giờ nghĩ đến chuyện chinh phục thiên nhiên, họ chọn học cách sống cùng con nước, bởi tất cả đều hiểu chỉ khi biết thuận theo tự nhiên thì đất trời mới mở lòng nuôi sống con người.
Nước ngập kín những bãi cỏ cuối cùng, cả xóm bắt đầu chuẩn bị cho mùa len trâu. Người vá chiếc áo cũ, người đan thêm sợi dây mũi, người chất gạo, muối, nồi niêu lên ghe. Má Bảy thức suốt đêm vắt từng nắm cơm, hong khô từng xấp áo. Dì Tư lặng lẽ vá lại chiếc khăn rằn sờn vai cho chú Tám Tráng. Không ai nói nhiều, bởi ai cũng hiểu phía trước là hành trình mà con nước sẽ quyết định ai trở về, ai ở lại.
Ông Bảy nhìn đứa cháu nội, ánh mắt dịu xuống như mặt nước sau cơn gió: "Quê mình lạ lắm, Lành à! Con nước ngoài mang theo cá tôm còn nuôi lớn biết bao đứa trẻ bằng mồ hôi của cha, nước mắt của mẹ và tiếng mõ trâu vọng suốt một đời. Người quê mình gọi mùa nước là mùa để đất nuôi người và để người học cách thương đất, thương nước...".
Lành lặng im nhìn ra cánh đồng. Đứa trẻ sinh ra giữa những mùa lũ hiền hòa của hệ thống đê bao chưa thể hiểu hết lời ông nói. Nhưng dưới lớp phù sa lấp lánh ngoài kia dường như vẫn còn nguyên hơi thở của những mùa lũ dữ và bóng dáng đàn trâu đã lặng lẽ đi qua, để lại cho vùng đất đầu nguồn sông Tiền không chỉ những vụ mùa no đủ mà còn dựng nên cả cốt cách của con người nơi đây.
Theo dấu đàn trâu
Ông Bảy khẽ vuốt mái đầu thằng Lành. Bàn tay già nua ấy từng cầm dây mũi trâu, chống sào vượt dòng nước xiết. Nhắm mắt lại, ông vẫn nghe tiếng mõ trâu vọng giữa biển nước mênh mông, mùi phù sa đầu nguồn vẫn phảng phất trong gió.
"Ngày ấy, hễ nước ngập kín đồng là cha con ông lại dắt đàn trâu đi len - giọng ông trầm xuống theo nhịp gió - Chuyến đi nào cũng dài dằng dặc, hết cánh đồng này sang cánh đồng khác, hết con kinh đến bìa rừng tràm. Có khi cả tháng mới tìm được gò đất khô cho đàn trâu nghỉ chân. Người theo con nước, còn con nước đưa người đi đâu chẳng ai biết trước được. Mỗi chuyến đi bắt đầu khi trời còn mờ sương. Má Bảy lặng lẽ nhóm bếp, nắm cơm, gói muối mè và mấy con cá khô nướng vàng, khẽ vuốt lại cổ áo cho chồng con, rồi tựa cột nhà nhìn theo đến khi bóng người, bóng trâu khuất hẳn trong màn sương mờ đục. Chú Tám Tráng thì lúc nào cũng cười giòn tan, chiếc roi trâu vắt ngang vai như đi hội. Tiếng cười ấy làm đám trai trẻ vững dạ trước chuyến đi dài". Sau này ông Bảy mới hiểu, có những tiếng cười không phải vì vui, mà để người bên cạnh bớt sợ hãi trước thử thách của thiên nhiên. Giữa biển nước ấy không chỉ có cá linh hay bông điên điển mà còn ẩn chứa biết bao thử thách mà chỉ sự can trường và nghĩa khí mới giúp con người vượt qua.
Có những ngày trời đang sáng bỗng tối sầm; gió nổi từng cơn cuốn sóng dựng đứng đập chan chát vào mạn xuồng. Đàn trâu nối nhau bơi giữa biển nước, đầu ngẩng cao, mắt đỏ hoe vì kiệt sức; người đi sau chỉ biết siết chặt sợi dây mũi của con trước, bởi lạc mất một con là cả đàn có thể tan tác.
Rồi cũng đến một ngày mà gần 90 năm sau, ông Bảy vẫn không thể quên. Con trâu đầu đàn, theo cha ông gần 10 mùa nước, bỗng khựng lại giữa cánh đồng ngập trắng. Nó cố ngẩng đầu tìm khoảnh đất khô cho cả đàn bấu víu, nhưng sức đã cạn. Đôi chân từ từ khuỵu xuống, mặt nước chỉ kịp gợn vài vòng sóng trước khi thân hình đồ sộ nằm yên giữa dòng nước đục.
Cậu bé Bảy 13 tuổi khi ấy ôm lấy chiếc sừng trâu còn âm ấm, gọi khản giọng, nước mắt lẫn nước mưa hòa vào dòng phù sa. Cha ông bước đến, đặt bàn tay chai sần lên vai con, giọng trầm đục: "Đất trời cho thì đất trời lấy, đứng dậy đi tiếp con!".
Con trâu đầu đàn nằm lại, nhưng đó chưa phải là mất mát cuối cùng. Có chuyến đi, một người trong đoàn bị nước cuốn mất giữa đêm, mọi người chèo xuồng tìm đến khi mặt trời đứng bóng vẫn chỉ thấy chiếc nón lá lững lờ trôi giữa đám lục bình. Không có mảnh đất khô để tiễn biệt, bà con đành bó người xấu số trong tấm chiếu cũ gửi lại lòng nước, hẹn ngày nước rút sẽ đón về với đất mẹ.
Con nước có thể cuốn đi một con người, nhưng chưa bao giờ cuốn trôi nghĩa tình của những người ở lại. Ông Bảy trầm ngâm. Những mùa len trâu vì thế không chỉ là cuộc mưu sinh, mà còn dạy con người biết nương tựa vào nhau. Giữa biển nước mênh mông, giữ được một bàn tay là giữ được một mạng người.
Bây giờ người ta đắp đê, mở đường, máy cày và máy gặt đã thay sức trâu. Cuộc sống đủ đầy hơn, nhưng ông Bảy vẫn nợ vùng đất này những ký ức. Đất chỉ thực sự màu mỡ khi lòng người còn biết nhớ ơn đất, nhớ ơn nước và nhớ những người đã ngã xuống.
Lành khẽ cúi đầu. Đứa trẻ chưa từng biết mùa len trâu, nhưng trong khoảnh khắc ấy, ký ức của ông nội đã lặng lẽ lan sang em như dòng phù sa âm thầm bồi đắp đôi bờ.
Đất vẫn nhớ người
Chiều nghiêng dần về phía cuối cánh đồng. Hoàng hôn rót xuống mặt nước màu vàng óng, lấp lánh như những chiếc vảy khi đám cá linh quẫy mình trong dòng phù sa. Lành lặng lẽ hỏi: "Nội có sợ lũ không?", ông Bảy mỉm cười, lắc đầu: "Ông không sợ lũ. Ông chỉ sợ mai này tụi con quên đất, quên nước, quên nơi chôn nhau cắt rốn của mình...". Lời nói nhẹ như làn khói bếp vang lên giữa buổi chiều yên ả, nhưng rơi vào lòng đứa cháu nhỏ nặng như hòn đất vừa nhấc lên từ đáy ruộng. Ông Bảy kể không phải để giữ riêng ký ức cho mình, mà để một ngày nào đó khi ông trở về với đất, vẫn còn thằng Lành nhớ thay ông những mùa len trâu quê cũ.
Chỉ tay về con đường bê-tông chạy thẳng qua cánh đồng, ông mừng vì quê hương đã đổi khác, mừng vì con cháu không phải dắt đàn trâu đi hàng tháng trời tìm cỏ, mừng vì những mái nhà không còn nơm nớp lo con nước mỗi khi tháng Bảy về. Nhưng sâu trong niềm vui ấy vẫn còn những khoảng lặng. Ông sợ khi đi nhanh hơn, người ta dễ quên con đường đất nuôi mình lớn, quên tiếng mõ trâu từng ngân suốt mùa nước nổi, quên những gian khó đã làm nên cốt cách con người nơi đầu nguồn.
"Đất quê mình chưa bao giờ phụ người - ông Bảy tiếp lời - Phù sa không chỉ làm màu mỡ cánh đồng, mà còn bồi đắp cốt cách con người. Mỗi mùa nước đi qua để lại lớp đất mới, cũng như mỗi mất mát đều để lại lớp nghĩa tình sâu đậm hơn. Vì thế, những người nằm lại giữa mùa lũ chưa bao giờ thật sự rời xa, họ hóa thành phù sa trong ký ức, âm thầm nuôi lớn các thế hệ sau".
Chiều xuống rất chậm. Lành nhẹ nhàng đứng dậy đỡ ông nội. Một bàn tay nhăn nheo vì gần trăm năm mưa nắng dãi dầu nắm lấy bàn tay còn non trẻ - khoảnh khắc như đôi bờ dòng sông lặng lẽ nối quá khứ với tương lai. Hai ông cháu đứng lặng nhìn mặt trời đỏ như hòn lửa chìm xuống cuối cánh đồng. Đâu đó trong gió chiều, tiếng chuông trâu ngân lên từng hồi trầm đục rồi tan dần vào khoảng không mênh mang.
Ông Bảy khẽ siết bàn tay Lành: "Mai này dù con đi đâu, nhớ nghen... Quê mình từng có những mùa len trâu. Chính những mùa nước dữ ấy đã dạy ông biết thương người, thương đất và biết ngẩng đầu sống cho tử tế".
Trong mùi phù sa nồng nàn và tiếng chuông trâu chậm rãi tan vào gió, quê hương vẫn lặng lẽ giữ hộ con người những ký ức không bao giờ cũ. Đất vẫn nhớ người, chỉ mong người đừng quên đất, vậy thôi!