Nơi ký ức bắt đầu
Ở Đồng bằng Sông Cửu Long có những mùa không được tính bằng tháng năm trên tờ lịch mà được gọi bằng nhịp lên xuống của con nước. Cứ vào khoảng cuối tháng 7 đầu tháng 8 âm lịch, khi dòng Mekong từ thượng nguồn lặng lẽ mang phù sa xuôi về, tràn qua những bờ cỏ, cánh đồng và bãi bồi, người miền Tây lại náo nức đón mùa nước nổi. Họ mong nước không chỉ vì cá tôm đầy đồng, không chỉ bởi ruộng vườn thêm lớp phù sa màu mỡ, mà do con nước đã trở thành một phần máu thịt, nuôi dưỡng bao thế hệ lớn lên trên vùng đất cuối nguồn Cửu Long giang. Với nhiều người, mùa nước nổi còn là nơi ký ức bắt đầu.
Tôi sinh ra và lớn lên bên dòng sông Tiền, nơi mỗi mùa nước về đều được đón bằng niềm vui hơn là nỗi lo. Căn nhà nhỏ nép mình sau hàng dừa cao vút, phía trước là con sông quanh năm đỏ nặng phù sa. Tuổi thơ tôi lớn lên cùng tiếng mái chèo khua nước của cha mỗi sáng tinh mơ, tiếng mẹ gọi đàn vịt vào chuồng khi chiều xuống cùng dáng ngoại lom khom bẻ từng chùm bông điên điển ven bờ. Người quê tôi ít khi gọi đó là mùa lũ, họ thích cái tên "mùa nước nổi" hơn, bởi trong 3 tiếng ấy có sự gần gũi, hiền hòa và chứa chan hy vọng. Con nước không ập đến dữ dội như những trận lũ miền Trung hay vùng núi phía Bắc, mà lặng lẽ len qua từng bờ đất, phủ lên ruộng đồng màu phù sa đỏ au rồi biến cả miền quê thành biển nước mênh mang.

Đánh bắt
cá linh trong mùa nước nổi ở miền Tây
Những con đường đất quen thuộc cứ thế bỗng chốc hóa thành dòng kênh nhỏ. Chiếc xuồng ba lá trở thành phương tiện đi lại của xóm làng. Tiếng ghe máy rộn ràng, tiếng mái chèo khua nhịp, tiếng trẻ con í ới gọi nhau tập bơi ngay trước sân nhà... Tất cả hòa thành thanh âm của sự sống và niềm vui sau những tháng ngày chờ mong.
Lúc còn nhỏ, mỗi lần nghe bà nội cất tiếng "Nước lên rồi đó con!", anh em chúng tôi lập tức bỏ mọi trò chơi để chạy ùa ra mé sông. Dòng nước lúc ấy không còn xanh trong như ngày thường mà chuyển sang màu nâu đỏ của phù sa từ thượng nguồn đổ về. Bà nội bảo đó là màu của sự no đủ. Phù sa sẽ bồi đắp ruộng đồng, nước rồi mang theo cá tôm và hứa hẹn một mùa màng trĩu hạt. Hồi ấy tôi chưa hiểu hết ý nghĩa những lời bà nói, chỉ thấy ánh mắt của mẹ cha và những người lớn trong xóm sáng lên mỗi khi con nước về. Sau này lớn lên tôi mới biết niềm vui ấy không chỉ đến từ cái ăn, cái mặc, mà còn từ niềm tin vào sự hào phóng của thiên nhiên đã nuôi sống biết bao thế hệ.
Những buổi sớm đầu mùa, cha thường thức dậy khi màn sương còn phủ kín mặt sông. Tôi lẽo đẽo theo cha xuống xuồng, ngồi nép ở mũi ghe. Chiếc xuồng rẽ sóng giữa cánh đồng nước mênh mông, nơi chỉ còn những ngọn cỏ lấp ló trên mặt nước. Cha khéo léo quăng tấm lưới rồi hai cha con lặng im chờ. Chẳng bao lâu sau mặt lưới rung lên, từng con cá nhỏ óng ánh bạc nhảy tanh tách dưới nắng sớm. Cha mỉm cười, nâng mẻ lưới còn lấp lánh nước, bảo: "Cá linh đầu mùa đó con!". Tôi nâng thử một con cá bé xíu trên tay. Thân cá mỏng, lớp vảy bạc ánh lên dưới nắng như phủ một lớp sương mai. Người miền Tây quý cá linh đầu mùa bởi khi ấy cá còn non, xương mềm, thịt ngọt và béo thanh. Mãi sau này tôi mới biết đàn cá nhỏ ấy đã theo dòng Mekong vượt qua biết bao nhánh sông để tìm về vùng đất cuối nguồn, mang theo món quà thiên nhiên ưu ái ban tặng.
Nhưng mùa nước nổi sẽ chưa thật trọn vẹn nếu thiếu sắc vàng của bông điên điển. Mỗi lần theo ngoại chèo xuồng hái rau đồng, tôi lại bị hút mắt bởi những bụi điên điển nở rực hai bên bờ kênh. Nước dâng đến đâu, điên điển vươn mình tới đó. Những chùm hoa vàng rung rinh trong gió, soi bóng xuống mặt nước như những đốm nắng nở giữa đồng sâu. Ngoại thường bảo điên điển sinh ra để đợi mùa nước nổi, nước càng đẹp thì hoa càng sai. Bông điên điển không ngào ngạt hương như hoa lài, cũng chẳng rực rỡ như mai vàng ngày Tết, nó lớn lên từ bùn nước, bình dị giữa đồng sâu và chỉ nở đúng mùa nước nổi. Có lẽ vì vậy mà những người đi xa chỉ cần thấy rổ bông điên điển ngoài chợ cũng đủ thấy lòng mình chùng xuống. Trong sắc vàng ấy có mùi phù sa, tiếng mái chèo khua nước, có bóng cha, dáng mẹ, hình ảnh của ngoại và cả tuổi thơ bình yên trôi theo con nước.
Người quê tôi vẫn thường nói vui rằng cá linh mang "món nợ tình" với bông điên điển. Nhưng càng trưởng thành, tôi càng hiểu điều gắn kết chúng không chỉ là một món ăn, đó còn là mối dây ân tình giữa thiên nhiên với con người, giữa dòng Mekong với vùng đất cuối nguồn, giữa những sản vật bình dị với ký ức của bao thế hệ. Và cũng từ cuộc gặp gỡ ấy, thêm món nợ khác lặng lẽ hình thành: Món nợ ân tình của mỗi người con miền Tây đối với mùa nước nổi đã nuôi mình khôn lớn.

Canh chua cá linh bông điên điển, món ăn đặc trưng của miền Tây
Hương quê còn đọng lại
Có lẽ vì cùng lớn lên theo con nước nên cá linh và bông điên điển chẳng bao giờ vắng mặt trong căn bếp của người miền Tây mỗi độ nước về. Chúng gặp nhau không phải trong những nhà hàng sang trọng hay mâm cỗ cầu kỳ, mà trên chiếc bàn gỗ cũ kỹ của mỗi gia đình, nơi cả nhà quây quần sau một ngày mưu sinh giữa đồng nước, để từ đó chỉ cần nhắc tên thôi cũng đủ đánh thức cả một mùa ký ức.
Ngày ấy, mỗi khi cha chống xuồng cập bến với rổ cá linh còn óng ánh nước, mẹ lại tất bật nhóm bếp. Ngoại ngồi bên hiên lựa từng chùm bông điên điển vừa hái ngoài đồng, cẩn thận ngắt bỏ cuống già rồi rửa nhiều lần cho sạch lớp phù sa còn bám trên cánh hoa. Căn bếp nhỏ nhanh chóng tỏa mùi hành phi, mùi nước dùng sôi lăn tăn và tiếng củi cháy tí tách dưới đáy nồi.
Nồi canh chua cá linh bông điên điển của mẹ chứa sự từng trải của đôi bàn tay người phụ nữ miền sông nước: cá vừa chín tới để giữ nguyên vị ngọt thanh, bông điên điển chỉ thả vào sau cùng, vừa chạm nước sôi đã được nhắc xuống để cánh hoa vẫn giữ được màu vàng tươi và độ giòn dịu. Chỉ vậy thôi mà hương vị của cả mùa nước nổi như gói trọn trong nồi canh nghi ngút khói. Lũ trẻ chúng tôi khi ấy đâu biết mình đang thưởng thức món quà của thiên nhiên, chỉ thấy bữa cơm hôm ấy ngon hơn mọi ngày vì có đủ tiếng cười của cả gia đình.
Lớn lên, đi nhiều nơi, tôi từng thưởng thức không ít món ngon của mọi miền đất nước. Có những món được chế biến cầu kỳ, có những hương vị khiến người ta nhớ mãi. Nhưng chưa lần nào tôi tìm lại được cảm giác như khi húp muỗng canh chua cá linh bông điên điển giữa căn bếp nhỏ của mẹ năm nào. Cá linh sẽ không trọn vị nếu thiếu bông điên điển. Cũng như mùa nước nổi cũng không còn nguyên vẹn nếu thiếu những bữa cơm sum vầy, thiếu tiếng gọi nhau í ới giữa đồng nước và mùi khói bếp bảng lảng trong chiều.
Có lẽ vì thế mà những người con miền Tây dù đi xa đến đâu vẫn luôn tìm kiếm hương vị ấy như tìm lại chính mình. Hóa ra điều người ta nhớ không phải chỉ là một món ăn, mà là cả thời tuổi thơ được nuôi lớn bằng dòng Mekong, bằng mùa nước nổi và tình yêu thương của gia đình.
Bây giờ mỗi lần trở về quê cũ, tôi vẫn đứng thật lâu bên bờ sông năm nào. Dòng Mekong vẫn miệt mài chảy về hạ nguồn, nhưng con nước đã không còn đầy như thuở tôi còn bé. Những cánh đồng ngập trắng ngày nào giờ có nơi chỉ còn lưng chừng nước. Mẻ cá linh đầu mùa cũng thưa dần. Những bụi điên điển ven bờ không còn vàng rực như trong ký ức. Người ta bảo đó là quy luật của thiên nhiên, là tác động của biến đổi khí hậu, là những đổi thay từ thượng nguồn dòng sông. Có lẽ tất cả đều đúng. Nhưng với những người đã lớn lên cùng mùa nước nổi như tôi, mỗi đổi thay ấy đều giống như một phần ký ức đang lặng lẽ vơi đi.
Tôi chợt hiểu, chính con nước đã mang phù sa về bồi đắp ruộng đồng, mang cá tôm nuôi lớn bao thế hệ, mang theo những mùa bông điên điển vàng rực và nuôi dưỡng trong mỗi đứa trẻ một tình yêu quê hương mộc mạc mà sâu nặng. Nếu một ngày mùa nước nổi chỉ còn trong ký ức thì chúng ta biết lấy gì để kể cho con cháu nghe về một miền Tây từng sống hài hòa với dòng Mekong, về những buổi sớm theo cha giăng lưới, những chiều theo ngoại hái bông điên điển hay những bữa cơm thơm mùi canh chua cá linh của mẹ?
Có những món nợ chẳng thể đong đếm theo thời gian, mà chỉ có thể trả bằng sự gìn giữ. Gìn giữ một dòng sông còn khỏe mạnh, gìn giữ những mùa nước nổi còn đủ đầy, gìn giữ những giá trị mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho vùng đất cuối nguồn Cửu Long giang. Bởi giữ được mùa nước nổi cũng chính là giữ lại một phần hồn cốt của đồng bằng, giữ lại những ký ức đẹp nhất của bao thế hệ người miền Tây.
Đến bây giờ, mỗi khi bắt gặp một rổ bông điên điển vàng bên góc chợ hay nghe ai nhắc đến nồi canh chua cá linh đầu mùa, lòng tôi vẫn thấy bâng khuâng. Tôi biết mình sẽ còn mang theo món nợ ân tình ấy suốt cuộc đời và tin rằng những ai từng một lần được lớn lên trong vòng tay của mùa nước nổi cũng sẽ như tôi, luôn mong con nước năm sau lại về, để cá linh còn tìm đến, bông điên điển lại nở vàng và những đứa trẻ hôm nay vẫn còn một miền ký ức để thương, để nhớ và để tự hào kể lại cho mai sau.