(CATP) Trong tố tụng dân sự, cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ là một biện pháp nhằm ngăn ngừa nguy cơ đương sự trốn tránh nghĩa vụ, bảo đảm việc giải quyết vụ án và thi hành án về sau. Thế nhưng, từ quy định của pháp luật đến thực tiễn áp dụng lại là một khoảng cách không hề nhỏ. Cùng một chế định, có vụ án được tháo gỡ sau nhiều năm bế tắc, nhờ quyết định cấm xuất cảnh được ban hành đúng lúc. Nhưng cũng có vụ, chính việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn này lại làm dấy lên lo ngại về tính hiệu quả của hoạt động tư pháp.
Nhờ cấm xuất cảnh bị đơn, vụ án được khơi thông
Câu chuyện pháp đình ngày hôm nay chúng tôi nhắc đến, dù không chỉ ra vụ án nào, ở đâu, nhưng đều được chắt lọc từ những hồ sơ có thật. Điều đáng quan tâm không nằm ở việc đúng hay sai của một quyết định tố tụng cụ thể, mà ở cách mỗi quyết định ấy có thể làm thay đổi "số phận" của cả một vụ án, tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của các đương sự. Đồng thời, đặt ra yêu cầu ngày càng cấp thiết về sự thống nhất trong nhận thức, áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Hơn 4 năm kể từ ngày Tòa thụ lý, vụ án "tranh chấp di sản thừa kế" giữa bà N.T.T và ông N.N.T ở tỉnh Đ. vẫn quẩn quanh ở các thủ tục tố tụng không hồi kết. Không ít người nghĩ rằng, tranh chấp thừa kế thường kéo dài vì tài sản lớn hoặc vì người trong một gia đình không tìm được tiếng nói chung. Nhưng hồ sơ vụ án này lại khác, nó bị "níu" lại bởi có quá nhiều đương sự đang sinh sống ở nước ngoài. Các đương sự không hợp tác và Tòa án cũng vô cùng trần ai trong việc xác định được nơi họ cư trú ở tận trời Tây, để thực hiện việc tống đạt theo quy định.
Trong tố tụng dân sự, tống đạt là điều kiện bắt buộc nhằm bảo đảm quyền được biết, quyền được trình bày ý kiến của đương sự và cũng là cơ sở để Tòa thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo. Nếu thiếu bước này, bản án cấp sơ thẩm không tránh khỏi việc bị cấp phúc thẩm "tuýt còi". Khi địa chỉ của đương sự ở nước ngoài không được cung cấp hoặc không thể xác minh, mọi thủ tục xem như bị "giậm chân tại chỗ".

Nhiều cá nhân bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh (ảnh minh họa)
Trong bối cảnh vụ án đang bị bế tắc, một diễn biến khác lại bất ngờ xuất hiện, nhờ sự quyết liệt của thẩm phán. Quá trình Tòa tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp, bị đơn N.N.T đã có hành vi cản trở hoạt động tố tụng, khiến luật sư đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng không thể thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình trước những diễn biến phát sinh. Sự việc được lập biên bản ngay tại hiện trường và từ những tài liệu đã thu thập, thẩm phán giải quyết vụ án có đầy đủ căn cứ xác định, việc bị đơn tiếp tục xuất cảnh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giải quyết vụ án, cũng như bảo đảm thi hành án sau này.
Bằng sự khách quan và bản lĩnh của "người cầm cân nảy mực", ngay sau đó, Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với bị đơn ông N.N.T đã được Tòa án cấp sơ thẩm ban hành. Nghe thì tưởng chừng đơn giản, nhưng đó là một quyết định phải đối diện với rất nhiều áp lực. Bởi trên thực tế, không nhiều thẩm phán lựa chọn áp dụng biện pháp cứng rắn này. Một phần vì nó tác động trực tiếp đến quyền tự do đi lại của công dân, phần khác vì điều kiện áp dụng đòi hỏi phải có căn cứ rất chặt chẽ. Chỉ cần "sẩy một ly là đi một dặm" - người ban hành có thể phải đối diện với khiếu nại, thậm chí là trách nhiệm bồi thường nếu gây ra thiệt hại.
Nhưng cũng từ thử thách ấy, vụ án bắt đầu tái chuyển động. Sau quyết định cấm xuất cảnh, nhiều tình tiết trước đây chưa được làm rõ, nay được bị đơn lần lượt thừa nhận. Các buổi thẩm định tại chỗ để Tòa thu thập chứng cứ được diễn ra suôn sẻ. Những mắt xích tưởng chừng rời rạc trong hồ sơ dần được ráp nối. Trên cơ sở các chứng cứ mới thu thập được, Tòa án tiếp tục thực hiện thủ tục ủy thác thông qua con đường tương trợ tư pháp ngoại giao để tống đạt văn bản cho các đương sự đang định cư tại nước ngoài. Vậy là, một vụ án từng nhiều năm loay hoay ở khâu thủ tục, nay đã có ngách khơi thông.
Mới thấy, một quyết định tố tụng nếu được đặt đúng thời điểm và dựa trên những căn cứ luật định, đã giữ cho cả vụ án không tiếp tục rơi vào vòng luẩn quẩn của những thủ tục kéo dài hết năm này sang năm khác. Thế nhưng, không phải vụ án nào cũng được người tiến hành tố tụng nhìn nhận chính xác về biện pháp này.
Khi chủ công ty bị kiện bỗng trở thành... người không có nghĩa vụ
Nếu câu chuyện ở vụ án thứ nhất cho thấy biện pháp cấm xuất cảnh có thể trở thành "chìa khóa" tháo gỡ một hồ sơ dân sự kéo dài nhiều năm thì tại một vụ án khác, cũng với quy định ấy, cách áp dụng lại rẽ sang một ngả đầy tréo ngoe.
Chuyện là bà N.T.G khởi kiện ông T.Đ.K và Công ty B.C.P.Y (cũng do ông T.Đ.K làm chủ), yêu cầu liên đới thanh toán hơn 15,3 tỷ đồng tiền vay. Sau quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc Công ty B.C.P.Y phải thanh toán cho nguyên đơn cả gốc và lãi hơn 21,2 tỷ đồng. Trước đó, để bảo đảm việc giải quyết vụ án cũng như thi hành án về sau, Tòa đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về việc cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ là ông T.Đ.K.
Ít lâu sau, bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy để giải quyết lại do còn nhiều vấn đề cần làm rõ. Điều đáng chú ý là trong quyết định phúc thẩm, hội đồng xét xử không tuyên hủy bỏ quyết định cấm xuất cảnh đã có hiệu lực, mà chỉ xác định việc xem xét giải quyết hủy bỏ hay tiếp tục duy trì biện pháp này phải được thực hiện theo Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tưởng rằng câu chuyện sẽ dừng ở đó! Thế nhưng, khi hồ sơ được trả về cấp sơ thẩm, Tòa án lại ban hành Quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với ông T.Đ.K. Khi nguyên đơn khiếu nại, Tòa cấp sơ thẩm tiếp tục giữ nguyên quan điểm, cho rằng theo đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bên có nghĩa vụ là Công ty B.C.P.Y, chứ không phải là ông T.Đ.K. Do vậy, việc xuất cảnh của ông K. không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án cũng như bảo đảm thi hành án.
Chính nhận định ấy đã tạo nên những băn khoăn trong hồ sơ vụ án này. Bởi, theo tài liệu xác minh từ Cơ quan điều tra về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên này (trong một vụ án khác) thì ông T.Đ.K không chỉ là người bị khởi kiện trong vụ án mà còn làchủ sở hữu duy nhất, đồng thời là người đại diện theo pháp luật duy nhất của công ty kể từ ngày doanh nghiệp được thành lập. Nói cách khác, trong suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký không ghi nhận bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khác cùng chia sẻ tư cách chủ sở hữu với ông T.Đ.K.
Theo ông Lê Văn Đẳng - nguyên Phó phòng Kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, khoản 1 Điều 74 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định rõ việc "chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty". Do đó, trong vụ này, chỉ có ông T.Đ.K mới là chủ thể duy nhất phải chịu nghĩa vụ theo bản án có hiệu lực. "Chúng ta không thể loại trừ việc thi hành án về sau sẽ gặp trở ngại vì người có nghĩa vụ đã xuất cảnh nhằm trốn tránh nghĩa vụ của chính họ. Lúc ấy, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn sẽ là điều đáng bận tâm?" - ông Lê Văn Đẳng đánh giá.