Cách đây 57 năm, trong Điếu văn đọc tại buổi lễ truy điệu Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng - đã phân tích rất sâu sắc về thiên tài của Bác. Đồng chí viết: "Dân tộc ta, Nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sản sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, Nhân dân ta, non sông đất nước ta".
Chúng ta đều biết, Bác Hồ không những là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, người thầy và là lãnh tụ thiêng liêng của đất nước, đồng thời Người còn là nhà báo, nhà văn, nhà thơ lớn, người sáng lập, đặt nền móng và chỉ đạo việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa - nghệ thuật đã đơm hoa kết trái trên đất nước Việt Nam để chúng ta có thể tự hào nói đến một "nền văn hóa Hồ Chí Minh" trong thời đại mới. Đúng như Joris Iven - nhà điện ảnh nổi tiếng người Hà Lan nhận xét: "Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là nhà quân sự lỗi lạc, nhà chính trị thiên tài mà còn là nhà nghệ thuật lớn". Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 83 năm ngày sinh Bác Hồ, trong bài phát biểu với hai đoàn đại biểu thanh niên và sinh viên đại học miền Bắc và miền Nam tham dự Đại hội lần thứ 5 tổ chức sinh viên Châu Mỹ La-tinh họp tại thủ đô Xantiago, cố Tổng thống Agienđê - người Anh hùng lỗi lạc của Nhân dân Chi Lê - đã nói: "Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tổ chức Cách mạng, một nhà lãnh đạo chính trị, một người đã từng bôn ba nước ngoài, một nhà tổ chức quân sự, một nhà văn, một nhà thơ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học viên Trường Nghệ thuật sân khấu Trung ương. Ảnh tư liệu
Ngay từ thuở thiếu thời, trong những tháng năm bôn ba ở hải ngoại để phục vụ cho sự nghiệp Cách mạng, Hồ Chủ tịch đã làm giàu trí tuệ của mình với những giá trị cao quý trong kho tàng văn hóa của nhân loại. Người đã quan tâm nghiên cứu tư tưởng triết học và chính trị, đặc biệt là tư tưởng Cách mạng và văn hóa Pháp. Thông hiểu nhiều ngoại ngữ, Người đã tiếp thụ được những giá trị tinh thần, tư tưởng nhân đạo của nền văn hóa đông, tây, kim, cổ. Người đã đọc Tân thư của Trung Hoa và Nhật Bản. Đã nghiên cứu triết học và văn học của thời kỳ Phục hưng và Thế kỷ Ánh sáng. Nghiên cứu Kinh tế học Ricardo, Ađam Xmít, nghiên cứu các tác phẩm Các Mác - Ph.Ăng-ghen, đọc Vichto Hugô, Sếch-Xpia, Lỗ Tấn, Lép Tôn-Xtôi từ nguyên bản. Vừa học tập, vừa viết báo, viết sách, làm thơ, vẽ tranh, viết kịch. Trước mắt của người đương thời, Nguyễn Ái Quốc, ngay trong độ tuổi thanh xuân "là một con người kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, một con người uyên bác". Thuở ấy, đã sớm có những ý kiến nhận xét rằng: "Từ con người Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một thứ văn hóa mới... Văn hóa của tương lai".
Chỉ nói riêng trong lĩnh vực văn học, sự nghiệp văn thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được các nhà khoa học đánh giá là đỉnh cao chói lọi của nền văn học xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Sự nghiệp ấy, cũng chính là biểu hiện của sự tiếp thu và nâng cao một cách thiên tài những truyền thống quý báu của 4.000 năm dựng nước và giữ nước, của 4.000 năm văn hóa và văn nghệ dân tộc. Đồng thời, sự nghiệp ấy còn là ngọn nguồn mở ra kỷ nguyên vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc, lịch sử văn hóa - văn hóa tiên tiến của dân tộc Việt Nam ta.
Khối lượng tác phẩm của Hồ Chủ tịch để lại cho đời rất lớn. Trên bước đường hoạt động Cách mạng ở nước ngoài cũng như trong nước, những tác phẩm của Bác Hồ đã lần lượt xuất hiện trong một thời gian dài hơn nửa thế kỷ trên các loại sách báo khác nhau bằng những thứ tiếng khác nhau, in ở nhiều nước khác nhau. Trong hơn 70 năm qua, các cơ quan nghiên cứu lịch sử Đảng, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Bảo tàng Cách mạng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, các cơ quan tuyên huấn, văn hóa văn nghệ, nghiên cứu khoa học, các nhà nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước đã lần lượt phát hiện và công bố lại những tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Bác Hồ cho đồng bào ta và Nhân dân thế giới.
Chúng ta vô cùng phấn khởi và tự hào được biết trong số bạn bè quốc tế thân thiết của Bác Hồ, số nhà văn, nhà thơ, nhà báo chiếm một tỷ lệ khá cao. Ở Pháp, có Raymond Lefèvre, Paul Vaillant Couturier, Gaston Monmouseau, Cassem Xembass, Romain Roland, Henri Barbuss, Charle Longuet, Giorge Piosse, Hariné, Collett, Rapopor... Ở Liên Xô, có Erenbua, Mandestan; ở Ý có Giovanni Zermannetto; ở Nhật có Kiôsi Cômátxư; ở Trung Quốc có Lý Đại Chiêu, Cù Thu Bạch...
Năm 1995, thông qua tờ Granma - nhật báo của Đảng Cộng sản Cuba - chúng ta đã được phát hiện thêm một tư liệu hết sức lý thú. Đó là, ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, Bác Hồ đã kết bạn với Sácli Saplin - một nghệ sĩ điện ảnh thiên tài, lừng lẫy tiếng tăm trên thế giới - người mà Nhân dân từ trước đến nay vẫn quen gọi bằng một cái tên thể hiện sự tôn vinh và lòng mến mộ là "Vua hề Charlot".
Theo lời kể của nữ nghệ sĩ Đerađina Saplin - con gái của Vua hề Charlot thì vào khoảng năm 1912, trên một chuyến tàu lướt sóng vượt Đại Tây Dương để sang Bắc Mỹ, Bác Hồ đã kết bạn với Charlot. Hai người chụp ảnh và ăn cơm chung với nhau. Từ đó đến sau ngày cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Charlot và Bác còn gặp lại nhau nhiều lần ở Tây Âu. Tiếc thay, giờ đây, những tấm ảnh lịch sử vô giá ghi dấu về cuộc gặp gỡ kỳ thú giữa Bác Hồ và nghệ sĩ thiên tài Charlot mãi mãi đã bị chôn vùi dưới lớp bụi thời gian.
Trong những tháng năm ở Paris, Bác đã tham gia Hội Nghệ thuật và Khoa học, Hội Những người làm bạn của nghệ thuật để nâng cao trình độ hiểu biết toàn diện của mình. Người đã sử dụng tiền lao động dành dụm được đi tham quan nhiều nước trên thế giới: Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Đức, Tòa thánh Vatican và các nước khác nhằm mở rộng và làm giàu thêm kiến thức về văn hóa.

Đồng chí Trần Hữu Phước (bìa trái, tác giả bài viết này) và đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ (người đứng giữa) tại Hà Nội, tháng 8/1981
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong những tháng năm chống Pháp và chống Mỹ, cũng như trải qua 15 năm trực tiếp lãnh đạo Nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Bác Hồ hết sức coi trọng vấn đề kiến quốc, xây dựng đời sống mới, con người mới và nền văn hóa mới. Ngay sau khi giành được chính quyền từ tay của thực dân Pháp và quân phiệt Nhật, Người đã chủ trương một trong những công việc phải thực hiện cấp bách là phải phát triển văn hóa, nâng cao dân trí. Phải chống giặc dốt đi đôi với chống giặc đói và giặc ngoại xâm. Người đã đưa ra một chủ trương nổi tiếng là: "Phải kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến". Bác luôn luôn coi trọng các vấn đề văn hóa, xã hội, coi đó là một nội dung rất cơ bản của chiến lược con người.
Chúng ta đều biết, mặc dù đã phải bận trăm công nghìn việc của Đảng và Chính phủ, Bác Hồ vẫn thường hỏi thăm đời sống của cán bộ, diễn viên, nhân viên làm công tác văn hóa - nghệ thuật. Bác dự nhiều cuộc biểu diễn nghệ thuật, xem nhiều buổi chiếu phim, triển lãm mỹ thuật, mỹ nghệ.
Chỉ nói riêng về lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, tinh hoa tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một kho tàng lý luận và thực tiễn cực kỳ phong phú của Đảng ta. Chúng ta có thể khai thác ở đây những vấn đề lý luận văn hóa - nghệ thuật rất cơ bản theo quan điểm triết học và mỹ học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin được diễn đạt một cách giản dị, thiết thực và sinh động.
*
* *
Nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa - nghệ thuật, trước hết phải nói đến mệnh đề tư tưởng cực kỳ quan trọng của Người. Bác đã nêu lên câu danh ngôn bất hủ: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em cán bộ của ngành văn hóa - nghệ thuật là những chiến sĩ trên mặt trận ấy".
Mệnh đề tư tưởng này của Bác, trước khi chính thức được phát biểu thành lời, đã thể hiện trong vô số truyện và ký của Người được đăng trên báo chí Cách mạng của nước ngoài (như các tờ Lhumanité, Pravda, Đời sống thợ thuyền, Người cùng khổ, Tạp chí Thư tín quốc tế...). Những tác phẩm ấy biểu hiện tinh thần chiến đấu không thỏa hiệp chống đế quốc và phong kiến, niềm tin sắt đá vào lý tưởng và thắng lợi cuối cùng của Cách mạng. Chúng ta không bao giờ quên những tứ thơ như lửa thép của bài "Cảm tưởng đọc thiên gia thi" trong "Ngục trung nhật ký”, Bác đã viết: "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết. Thi gia dã yếu hội xung phong" (tức là: "Nay ở trong thơ nên có thép. Nhà thơ cũng phải biết xung phong").
Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thức được điều này: Mặt trận văn hóa văn nghệ không gươm súng nhưng thường là mặt trận tiền tiêu, tác động to lớn, lâu dài đến lĩnh vực kiến trúc thượng tầng của xã hội. Bác Hồ viết: "Văn chương có sức mạnh của nghìn quân", "Văn chương làm đẹp cho nước", "Văn chương đủ sức sửa sang việc đời". Thật vậy, văn chương trong Thế kỷ Ánh sáng Pháp chuẩn bị tư tưởng cho cuộc Đại cách mạng năm 1789. Văn chương Cách mạng Việt Nam "nuôi dưỡng và làm bùng nổ những gì đang sục sôi, đang gào thét trong lòng người dân Việt Nam mất nước", "gieo hạt cho công cuộc giải phóng". Rồi nó "cổ vũ tinh thần và lực lượng kháng chiến, kiến quốc", "ca tụng chân thật những người mới, việc mới", "phê bình rất nghiêm khắc những thói hư tật xấu nhằm làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh, tốt đẹp hơn". Nó góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Ngày nay, với lực lượng hùng hậu và dồi dào sức trẻ hơn, nó dấn thân trong sự nghiệp đổi mới toàn diện nhằm phục vụ cho việc chấn hưng đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
"Nhà văn - chiến sĩ”, người "nghệ sĩ - chiến sĩ” là danh hiệu cao quý mà Bác Hồ đã tặng cho người làm công tác văn hóa - văn nghệ. Dĩ nhiên, chiến sĩ văn hóa - nghệ thuật có kiểu "xung phong" riêng của mình. Nhưng, theo Bác, đã là chiến sĩ thì phải biết "xung phong". "Biết xung phong" và "xung phong" là sứ mệnh cao quý, là trách nhiệm không thể thoái thác của những người cán bộ làm công tác trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và nghệ thuật. Đại diện cho đời sống tinh thần lý tưởng của xã hội, chiến sĩ văn hóa nghệ thuật là người "biết xung phong" trả lời những câu hỏi khó khăn, bức bách của xã hội bằng nghệ thuật một cách hấp dẫn, say mê, thắp sáng những tâm hồn, thổi bùng những khát vọng cao đẹp, tự khẳng định mình cho dù là giữa dòng xoáy của thời cuộc.
Để biết xung phong, làm tròn trách nhiệm của người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và nghệ thuật, theo huấn thị của Bác Hồ, chúng ta phải học tập chính trị, trau dồi nghệ thuật, nghiệp vụ, văn hóa, đạo đức Cách mạng, đi sát quần chúng, thâm nhập sâu rộng vào cuộc sống của đời thường, nhưng trước hết "cần có lập trường vững, tư tưởng đúng". Lập trường đó là độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc, hạnh phúc của Nhân dân. Tư tưởng đó là Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn của công cuộc kháng chiến và kiến quốc ở nước ta.
Tư tưởng then chốt thứ hai của Bác Hồ về văn hóa nghệ thuật là: Văn hóa nghệ thuật phải đi theo con đường Cách mạng của Nhân dân, phục vụ Nhân dân. Bác nói: "Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy. Văn nghệ của dân tộc Việt Nam ta vốn rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến, Nhân dân ta bị nô lệ thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được. Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia Cách mạng". Người căn dặn: Nền văn nghệ nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, các dân tộc làm cơ sở thì nó phải phản ánh đời sống của Nhân dân và vì Nhân dân.
Tư tưởng then chốt thứ ba của Bác Hồ về văn hóa nghệ thuật là văn hóa văn nghệ phải đậm đà bản sắc dân tộc.
Bác Hồ mãi mãi là hình ảnh của dân tộc Việt Nam trong tính cách, tâm hồn, phong độ, lời ăn tiếng nói. Người tiêu biểu cho đạo lý làm người Việt Nam, trí tuệ Việt Nam, tinh thần, sức mạnh và cốt cách Việt Nam. Bác hết sức nhạy cảm với tất cả những gì liên quan đến truyền thống, đến vận mệnh của dân tộc. Đối với Bác, dân tộc là trường tồn trong phát triển, và văn hóa là tinh hoa của dân tộc. Cho nên, Người rất chú ý đến bản sắc dân tộc của văn hóa, trong đó văn học nghệ thuật là bộ phận đặc trưng quan trọng nhất.
Tư tưởng then chốt thứ tư của Bác Hồ về văn hóa nghệ thuật là: Văn học nghệ thuật phải miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn, văn nghệ phải hấp dẫn và bổ ích. Người viết: "Quần chúng mong muốn có những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích". Người còn chỉ rõ thêm rằng: "Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người, những việc, bằng văn, bằng thơ, bằng vẽ và bằng các nghệ thuật khác để cổ vũ đồng bào ta, để giáo dục con cháu ta".
Nhấn mạnh sự phong phú của thực tế khách quan, coi đó là kho nguyên liệu vô tận cho những tác phẩm mà đồng bào ta đang chờ đợi, Bác luôn luôn căn dặn văn nghệ sĩ không phải sao chép hiện thực. Người yêu cầu nghệ thuật phải phản ánh được bản chất, xu thế phát triển tất yếu của cuộc sống trong tất cả tính phong phú và phức tạp của nó. Người nói: "Có thể viết về mọi cái. Đừng bỏ qua ngóc ngách gay cấn nào hết, đừng im lặng làm ngơ chuyện gì hết và có khen cũng phải có chê”. Người muốn nhấn mạnh rằng: "Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời, để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của Nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng, Nhân dân ta rất Anh hùng, Đảng ta thật vĩ đại, quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta".
Lúc sinh thời, không bao giờ Bác Hồ tự nhận mình là nhà văn nghệ, nhưng trong thực tế Người là cây bút bậc thầy của nước ta trong thế kỷ 20 đầy bão táp đấu tranh Cách mạng. Tư tưởng văn hóa văn nghệ của Bác Hồ không chỉ có tầm chiến lược của một lãnh tụ chính trị vĩ đại, mà còn có cả uy tín từ bề dày kinh nghiệm sáng tác phong phú, đa dạng của một nhà báo, nhà thơ, dịch giả, soạn giả, của nhà tư tưởng lớn, nhà văn hóa lớn...
Lần sinh nhật đáng nhớ của Bác Hồ
Kỷ niệm 136 năm ngày sinh của Người không chỉ là dịp để tri ân, mà còn là lúc để chúng ta soi mình vào tấm gương đạo đức sáng ngời, để hiểu sâu sắc hơn về triết lý sống vì dân mà Người đã thực hành suốt cuộc đời. Cùng nhìn lại lần tổ chức sinh nhật đáng nhớ của Bác cách đây tròn 80 năm để càng thêm nhớ về vị Cha già kính yêu của dân tộc.
1. Sự khiêm nhường đằng sau quyết định tổ chức ngày sinh nhật của Bác
Trong tâm thức của Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của sự giản dị tuyệt đối. Người ghét sự phô trương, xa lánh những nghi lễ rườm rà và đặc biệt dị ứng với sự nịnh bợ. Thế nhưng, vào trung tuần tháng 5 năm 1946, một sự kiện "lạ” đã xảy ra tại Bắc Bộ phủ khiến những người thân cận nhất cũng phải ngỡ ngàng.
Theo hồi ký "Tháng Tám cờ bay" của cụ Vũ Đình Huỳnh - nguyên Thư ký riêng của Bác, sáng ngày 18/5, Bác bất ngờ gọi cụ lại và dặn: "Này, chú thông báo cho các vị trong Chính phủ biết ngày mai sinh nhật tôi. Đừng quên gọi các cháu thiếu nhi đến chơi với tôi nhé!".
Tại sao một người luôn tìm cách giấu mình, luôn từ chối mọi sự tôn vinh cá nhân, lại chủ động yêu cầu tổ chức sinh nhật? Để hiểu được điều này, cần đặt trong bối cảnh lịch sử ngàn cân treo sợi tóc của năm 1946. Khi đó, vận mệnh dân tộc đang đối mặt với thù trong giặc ngoài, các thế lực Đồng minh và phe đối lập đang tìm mọi cách phủ nhận vai trò của Chính phủ lâm thời.
"Việc công khai ngày sinh của Bác năm 1946 không đơn thuần là một kỷ niệm cá nhân. Đó là một nước cờ chính trị tinh tế nhằm khẳng định sự đoàn kết nhất trí của quốc dân xung quanh vị lãnh tụ tối cao, đồng thời cho các đại biểu Đồng minh thấy rõ uy tín tuyệt đối và sự ủng hộ vô điều kiện của Nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh".
- GS.TS Mạch Quang Thắng, Chuyên gia Lịch sử Đảng
2. Khi ngày sinh nhật của lãnh tụ trở thành ngày hội của toàn dân
Dù chỉ có chưa đầy 24 giờ để chuẩn bị, nhưng tin tức về ngày sinh của Bác đã lan tỏa như một làn sóng điện khắp các ngõ ngách Hà Nội. Sáng ngày 19/5/1946, Thủ đô Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Tại Bắc Bộ phủ, không khí trang nghiêm thường ngày được thay thế bằng tiếng cười nói rộn rã của trẻ thơ và sự xúc động của các tầng lớp Nhân dân.
Hình ảnh Bác Hồ giữa vòng vây của các cháu thiếu nhi với mũ ca-lô đội lệch và súng gỗ vác vai, đã trở thành biểu tượng kinh điển của tình yêu thương. Trong đoàn thiếu nhi ấy, có những em bán báo gầy gò, có những trẻ mồ côi từ trường Hàng Bột. Các cháu thiếu nhi mang đến tặng Bác những món quà tinh thần quý giá nhất: những chiếc huy hiệu măng non, hay những con chữ "i", "t" mới học được từ phong trào Bình dân học vụ.
Đáp lại, Bác tặng các cháu thiếu nhi một chậu bách tán với lời dặn dò đầy hàm ý: "Mai sau cây này mọc ra một trăm cái tán. Các cháu về chăm cho cây tốt, thế là các cháu yêu Bác lắm đấy!". Cây bách tán ấy không chỉ là cái cây xanh, nó là biểu tượng cho sự trưởng thành của thế hệ tương lai, cho một Việt Nam đa dạng nhưng thống nhất.
Điểm nhấn xúc động nhất của lễ mừng sinh nhật đầu tiên của Bác chính là sự xuất hiện của phái đoàn hơn 50 đại biểu miền Nam. Trong đoàn năm ấy có cô Nguyễn Thị Định - người sau này trở thành nữ tướng lừng danh. Chứng kiến tấm lòng của những người con từ tiền tuyến, Bác đã không ngăn được dòng lệ. Người nghẹn ngào: "Các cô, các chú về báo cáo với Nhân dân miền Nam thân yêu rằng: Lòng già Hồ, lòng Nhân dân miền Bắc lúc nào cũng ở bên cạnh đồng bào Nam Bộ".
"Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hiếm hoi trong lịch sử thế giới mà tình cảm cá nhân và vận mệnh dân tộc hòa quyện làm một. Tình yêu Người dành cho miền Nam là biểu tượng cao nhất của khát vọng thống nhất non sông".
- William J. Duiker, Nhà sử học Mỹ, tác giả cuốn "Ho Chi Minh: A Life"
3. Giá trị trường tồn trong dòng chảy thời đại
136 năm đã trôi qua kể từ ngày cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời tại làng Sen, và 80 năm kể từ ngày sinh nhật đầu tiên được công bố, những bài học từ lễ mừng sinh nhật ấy vẫn còn nguyên giá trị thời đại. Trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, câu chuyện về mùa sen 1946 nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên về cái gốc của đạo đức Cách mạng.
Hồ Chí Minh không cần những đài kỷ niệm bằng đá hoa cương, bởi Người đã xây dựng một đài kỷ niệm vĩnh cửu trong lòng Nhân dân. Kỷ niệm ngày sinh của Bác, không gì ý nghĩa hơn là mỗi chúng ta, dù ở vị trí nào, cũng hãy học cách giản dị, tận hiến vì dân vì nước như Người đã từng làm. Đó là cách để ngọn lửa Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường đi tới tương lai của dân tộc Việt Nam.
Tháng Năm lại về, hương sen thơm ngát hòa cùng niềm tin vào một Việt Nam hùng cường, như ước nguyện của Bác Hồ kính yêu.
ĐỨC THIÊN