"Vành đai tử thủ” Phan Rang - lá chắn duyên hải miền Trung của chính quyền Sài Gòn
Sau những thất bại liên tiếp làm rúng động toàn bộ hệ thống quân sự tại duyên hải Miền Trung, chính quyền và quân đội Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Nhằm cứu vãn tình thế, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn đã vạch ra kế hoạch phòng ngự từ xa, quyết tâm dựng lên một "lá chắn thép" nhằm ngăn chặn bước tiến của ta bằng mọi giá. Phan Rang - vùng đất nắng gió Ninh Thuận - được chọn để xây dựng thành một trung tâm đề kháng cực mạnh, một "vành đai tử thủ” bảo vệ cho thủ phủ Sài Gòn. Tại đây, chính quyền Sài Gòn cho thành lập "Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3" đặt ngay tại sân bay Thành Sơn, do Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi trực tiếp chỉ huy.
Theo tính toán của quân đội Sài Gòn, sau khi giải phóng xong các tỉnh Miền Trung, ta sẽ phải để lại một lực lượng lớn giữ các địa bàn đã giải phóng. Ta chỉ có khả năng tăng cường cho Nam Bộ nhiều nhất một quân đoàn, hành quân nhanh nhất cũng mất hai tháng. Nếu cầm cự được với các quân đoàn chủ lực của ta trên các mặt trận cho đến mùa mưa (tức là đầu tháng 6), thời tiết sẽ gây nhiều khó khăn, ta sẽ không thể tổ chức đánh lớn ở Sài Gòn. Nhờ đó, địch sẽ có thời gian để củng cố lực lượng và tổ chức phản công giành lại những vùng đất đã mất.
Với mục tiêu này, chính quyền Sài Gòn đã tập trung một lực lượng mạnh, tăng cường pháo binh, xe tăng và các phương tiện chiến tranh hiện đại với hy vọng chặn đứng được Cánh quân duyên hải trước cửa ngõ Phan Rang. Mưu đồ của đối phương rất rõ ràng, biến Phan Rang thành một "pháo đài bất khả xâm phạm" để chặn đứng trục lộ số 1. Quân đội Sài Gòn huy động tại đây những đơn vị tinh nhuệ còn sót lại, từ Lữ đoàn dù 2, Sư đoàn 2 bộ binh đến các lực lượng biệt động quân quân khu, cùng hỏa lực tối đa của Sư đoàn 6 không quân. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi khi ấy nhận mệnh lệnh "tối hậu thư” từ Nguyễn Văn Thiệu: "Phải tử thủ Phan Rang bằng mọi giá để cứu vãn Sài Gòn".

Quân Giải phóng đánh chiếm dinh tỉnh trưởng Phan Rang ngày 16/4/1975
Quân đội Sài Gòn lợi dụng địa hình đèo dốc hiểm trở, kết hợp với căn cứ không quân Thành Sơn hiện đại - một trong những sân bay quân sự lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ – để thiết lập hệ thống phòng thủ đa tầng. Chúng tin rằng, với ưu thế tuyệt đối về không quân và sự chi viện từ các chiến hạm ngoài khơi, Phan Rang sẽ là "bức tường thành" chặn đứng cơn lốc Cách mạng của Quân Giải phóng đang tràn xuống phía Nam.
Tiến công trong hành tiến - sức mạnh hiệp đồng binh chủng
Phan Rang được coi là nơi cố thủ quyết chiến của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Vì vậy nếu vượt qua Phan Rang, tiếp đó là Xuân Lộc sẽ tạo đà cho chiến dịch Hồ Chí Minh "thần tốc, táo bạo, quyết chiến và toàn thắng". Trước tuyến phòng thủ được chính quyền Sài Gòn kỳ vọng nhất, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đưa ra quyết sách lịch sử: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa". Thời cơ lúc này không chỉ là sức mạnh mà còn là mệnh lệnh của non sông. Quân đoàn 2, với tư thế của binh đoàn chủ lực đang trên đà chiến thắng, được giao trọng trách đập tan lá chắn này trong thời gian ngắn nhất.
Nghệ thuật quân sự của ta trong trận Phan Rang đạt đến đỉnh cao với phương châm "tiến công trong hành tiến". Quân ta không dừng lại tổ chức đội hình bài bản theo lối đánh truyền thống mà thực hiện "vừa đi vừa đánh", truy kích địch ngay khi chúng còn đang hoang mang, không cho đối phương một phút giây co cụm hay củng cố công sự.
5 giờ 30 phút, ngày 14/4/1975, các đơn vị thuộc Sư đoàn Bộ binh 3, Quân khu 5 phối hợp với Trung đoàn Bộ binh 25 Mặt trận Tây Nguyên, được pháo binh chi viện, nổ súng tiến công địch. Kết hợp đột phá, thọc sâu với vu hồi, bộ đội nhanh chóng phá vỡ cụm phòng ngự của địch ở phía Bắc thị xã, áp sát sân bay Thành Sơn.
Sáng 16/4, Trung đoàn Bộ binh 101, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 tổ chức mũi thọc sâu binh chủng hợp thành, xuất phát từ vị trí bàn đạp của Sư đoàn 3, phối hợp Tiểu đoàn 4 (Lữ đoàn Xe tăng 203) tiến công trong hành tiến theo đường số 1, đột phá thẳng vào tuyến phòng ngự của địch ở Phan Rang. Một số khẩu pháo nòng dài 85mm và cao xạ 37mm cơ động trong đội hình sẵn sàng ngắm bắn trực tiếp vào các mục tiêu trên mặt đất và bắn máy bay địch. Lữ đoàn 164 Pháo binh đi phía sau làm nhiệm vụ chi viện hỏa lực cho đội hình thọc sâu.

Xe tăng và pháo của Quân Giải phóng tiến vào cửa ngõ Phan Rang ngày 16/4/1975
Phối hợp với mũi chính diện, Sư đoàn 3 và Trung đoàn 25 tiến công một số mục tiêu trong thị xã và sân bay Thành Sơn. Bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, đặc biệt là sức đột phá mạnh của xe tăng, thiết giáp, sau hai giờ chiến đấu, ta đã đánh tan các cụm quân địch phòng thủ, tiến thẳng vào trung tâm thị xã. Đến 7 giờ ngày 16/4, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 101, Sư đoàn 325 và Tiểu đoàn 4 xe tăng, thiết giáp đã làm chủ thị xã, nhanh chóng chia thành nhiều mũi phát triển tiến công, đánh chiếm các cảng Ninh Chữ, Tân Thành, quận lỵ Bửu Sơn và sân bay Thành Sơn, bịt kín các đường rút quân của địch. Địch đã huy động hàng chục lượt máy bay ném bom vào phía sau đội hình hành quân của ta trên đường số 1; đồng thời, đưa quân dù từ sân bay Thành Sơn ra phản kích. Trung đoàn 101, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 3 đã đánh lui các đợt phản kích của địch. Trong đó, đòn điểm huyệt chí mạng chính là mũi thọc sâu trực diện vào trung tâm chỉ huy sân bay Thành Sơn. Xe tăng ta húc đổ cổng chính, bộ binh tràn vào như thác lũ, bẻ gãy mọi sự kháng cự. Trong cơn hỗn loạn, toàn bộ Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 ngụy đã bị vây hãm. Kết quả hiển hách: Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang bị bắt sống ngay tại trận địa. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Cách mạng Việt Nam, ta bắt sống toàn bộ một bộ tham mưu tiền phương cấp Quân đoàn đối phương ngay khi trận đánh đang diễn ra, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của "vành đai tử thủ” cửa ngõ.
Tối 16/4, ta đánh tan tuyến phòng thủ Phan Rang, giải phóng tỉnh Ninh Thuận và một phần phía Bắc tỉnh Bình Thuận.
Phan Rang giải phóng - bàn đạp cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Chiến thắng Phan Rang mang giá trị chiến lược to lớn, tạo ra bước ngoặt không thể đảo ngược trên bàn cờ quân sự. Trước hết, nó phá vỡ thế liên hoàn phòng ngự duyên hải. Việc giải phóng Phan Rang chỉ 14 ngày sau khi giải phóng Nha Trang đã xóa sạch sự hiện diện của bộ máy chiến tranh ngụy quyền tại cực Nam Trung Bộ, đẩy đối phương vào thế "tứ bề thọ địch".

Xe tăng Quân Giải phóng tiến chiếm cơ quan chính quyền tỉnh Ninh Thuận
Thứ hai, làm chủ sân bay Thành Sơn đồng nghĩa với việc tước đi nanh vuốt cuối cùng của không quân Việt Nam Cộng hòa tại Miền Trung. Mất đi sự chi viện hỏa lực từ đây, các tuyến phòng thủ còn lại, tiêu biểu là "cánh cửa thép" Xuân Lộc, rơi vào tình thế đơn độc hoàn toàn. Sự sụp đổ của Phan Rang đã tạo ra hiệu ứng domino tâm lý kinh hoàng, khiến ý chí kháng cự của binh lính Sài Gòn tan rã nhanh chóng.
Cuối cùng, Phan Rang thất thủ đã tạo ra một bàn đạp khổng lồ cho cánh quân phía Đông tiến về Sài Gòn. Con đường duyên hải thênh thang mở rộng, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực hành quân thần tốc hướng về Đồng Nai. Sức mạnh của ta lúc này như thủy triều dâng, với niềm tin tuyệt đối vào ngày toàn thắng. Các chuyên gia quân sự phương Tây khi ấy đã phải thốt lên: "Sau khi Phan Rang sụp đổ, việc Sài Gòn thất thủ chỉ còn là vấn đề thời gian, tính bằng ngày".
Chiến thắng Phan Rang là minh chứng hùng hồn cho nhãn quan chiến lược tài tình của Đảng và sức mạnh vô địch của quân đội ta. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quả đấm thép của các binh đoàn chủ lực và sức mạnh nổi dậy của Nhân dân địa phương; là nghệ thuật đánh tiêu diệt gắn liền với đánh tan rã. Chúng ta đã thắng bằng ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và sự sắc sảo trong việc chọn đúng thời cơ lịch sử.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, Phan Rang hôm nay đã chuyển mình mạnh mẽ. Chiến thắng ấy đã tiếp thêm luồng sinh khí mới cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Từ những hố bom, dấu tích chiến tranh năm xưa, nay đã rực sáng màu xanh của những cánh đồng nho, những cánh đồng điện gió, điện mặt trời hiện đại - biểu tượng của kỷ nguyên năng lượng sạch. Phan Rang không còn là chiến trường, mà là biểu tượng của sự hồi sinh và khát vọng vươn tới giàu mạnh.
(CATP) Tháng Tư năm 1975, sau những đòn điểm huyệt chí mạng tại Tây Nguyên và cuộc tổng tiến công thần tốc quét sạch quân thù tại Huế - Đà Nẵng, đại quân ta như con tàu không phanh, lao về phía Nam với sức mạnh không gì cản nổi. Trong chuỗi thắng lợi huy hoàng ấy, giải phóng Nha Trang (02/4/1975) không chỉ là việc thu hồi một đô thị biển xinh đẹp, mà còn là một "mắt xích vàng" chiến lược. Đây là nhát dao sắc lẹm cắt đứt huyết mạch duyên hải, vô hiệu hóa lá chắn Cam Ranh và chính thức khai tử Quân khu 2 của địch. Chiến thắng Nha Trang đã tạo ra một bàn đạp khổng lồ, góp phần xoay vần vận mệnh, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tiến nhanh đến ngày toàn thắng cuối cùng.