Trong nhiều năm, câu chuyện phát triển TPHCM thường được đặt trong phạm vi của một đô thị lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, cách tiếp cận đó có thể không còn phù hợp với thực tế phát triển mới. Không gian kinh tế của Thành phố đã mở rộng, các dòng di chuyển về dân cư, hàng hóa, vốn, công nghệ và lao động đã vượt qua những ranh giới hành chính truyền thống.
Sự kết nối giữa TPHCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu tạo nên một không gian phát triển có những đặc điểm mà không nhiều đô thị trong khu vực có được: một trung tâm tài chính - dịch vụ lớn, một trung tâm công nghiệp - công nghệ cao và một hệ thống cảng biển - logistics gắn với kinh tế biển. Nếu được tổ chức tốt, đây không chỉ là sự mở rộng về diện tích của một Thành phố, mà là cơ hội hình thành một hệ sinh thái đô thị - kinh tế mới.
Mô hình phát triển đô thị trong thế kỷ XXI đang thay đổi. Một thành phố cạnh tranh quốc tế không nhất thiết phải tập trung mọi chức năng vào một khu vực trung tâm duy nhất. Ngược lại, những đô thị có quy mô lớn thường phát triển theo mô hình đa trung tâm, trong đó mỗi trung tâm đảm nhận một hoặc một số chức năng kinh tế - xã hội chuyên biệt.
TPHCM có đủ các điều kiện để áp dụng theo mô hình này. Ba cực phát triển - tài chính và dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao, cảng biển - logistics - có thể tạo thành một cấu trúc kinh tế đặc biệt mạnh. Luật Phát triển đô thị mới được thông qua có thể cung cấp nền tảng thể chế để cấu trúc đó vận hành hiệu quả vượt trội.

Trung tâm TPHCM nhìn từ trên cao
Một siêu đô thị không thể được quản trị bằng tư duy phân mảnh. Nếu mỗi quyết định quy hoạch, đầu tư, giao thông, đất đai, nhà ở và hạ tầng được thực hiện theo những thủ tục quá khác nhau, sự liên kết giữa các trung tâm sẽ bị suy giảm. Vì vậy, việc Luật trao cho chính quyền Thành phố quyền chủ động lớn và tập trung trong quản trị đô thị là một thay đổi có ý nghĩa chiến lược. Tinh thần là địa phương được quyền tự quyết những vấn đề thuộc lợi ích và điều kiện phát triển của mình, trong khi Trung ương giữ vai trò xác lập các nguyên tắc, tiêu chuẩn và những mục tiêu chiến lược của quốc gia.
Đây là một dạng phân quyền thực chất. Nhưng phân quyền chỉ thực sự có ý nghĩa nếu đi kèm với trách nhiệm giải trình. Chính quyền Thành phố càng có nhiều quyền quyết định thì càng phải chịu trách nhiệm trước người dân về chất lượng quy hoạch, hiệu quả đầu tư công, môi trường đô thị và hiệu quả sử dụng đất đai. Nói cách khác, tự chủ không phải là đặc quyền; tự chủ là trách nhiệm được trao cùng với quyền lực.
Một trong những cơ hội lớn nhất của TPHCM là khả năng thu hút những dòng vốn quốc tế đang tìm kiếm các địa điểm sản xuất và đầu tư mới tại Châu Á. Nhưng dòng vốn quốc tế cũng đặt ra một yêu cầu mới đối với quy hoạch. Nếu Thành phố xác định bán dẫn là ngành chiến lược, quy hoạch phải dành không gian cho trung tâm nghiên cứu, sản xuất, logistics, nhà ở chuyên gia, trường đại học và các doanh nghiệp hỗ trợ.
Nếu xác định trí tuệ nhân tạo là ngành mũi nhọn, Thành phố phải có hạ tầng dữ liệu, trung tâm tính toán, nguồn điện ổn định, nhân lực và không gian đổi mới sáng tạo. Nếu xác định sản xuất xanh là hướng đi dài hạn, quy hoạch phải tính đến năng lượng sạch, xử lý nước, chất thải, giao thông xanh và các tiêu chuẩn môi trường.
Tóm lại, thu hút đầu tư vì vậy phải gắn với quy hoạch phát triển. Không phải vốn đầu tư nào cũng giống nhau. Điều Thành phố cần là dòng vốn tạo ra công nghệ, việc làm chất lượng cao, năng lực sản xuất mới và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong cấu trúc mới, TPHCM cũng có dư địa để nghiên cứu những mô hình khu kinh tế đặc biệt với cơ chế vượt trội. Một khu kinh tế đặc biệt hiện đại không nhất thiết chỉ dựa trên ưu đãi thuế. Điều quan trọng hơn là một môi trường thể chế khác biệt, nơi doanh nghiệp có thể tiếp cận đất đai, hạ tầng, tài chính, thủ tục hành chính, lao động quốc tế và các dịch vụ chuyên môn một cách thuận lợi.
TPHCM có thể nghiên cứu những không gian chuyên biệt cho tài chính quốc tế, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, logistics, kinh tế số hoặc kinh tế biển. Nếu thành công, các khu vực này sẽ không chỉ tạo thêm GDP. Chúng có thể trở thành những trung tâm thử nghiệm chính sách kiểu sandbox, nơi những mô hình quản trị mới được áp dụng trước khi nhân rộng ra cả nước.
Một thành phố có cảng biển hiện đại, đường cao tốc, sân bay và các khu công nghiệp vẫn chưa đủ để trở thành một trung tâm kinh tế quốc tế. Yếu tố cạnh tranh ngày càng quan trọng là nhân tài. TPHCM muốn trở thành trung tâm tài chính và công nghệ của Đông Nam Á phải có khả năng thu hút kỹ sư, nhà khoa học, chuyên gia tài chính, nhà quản trị, chuyên gia pháp lý, kiến trúc sư, nhà thiết kế và những người hoạt động trong các ngành công nghiệp sáng tạo. Điều này đòi hỏi Thành phố phải có quyền chủ động hơn trong chính sách nhân lực.
TPHCM trở thành một siêu đô thị với cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại cùng hàng loạt tòa nhà chọc trời
Nhưng thu hút nhân tài không chỉ là trả lương cao. Một chuyên gia quốc tế sẽ lựa chọn nơi làm việc dựa trên cả hệ thống giáo dục cho con cái, dịch vụ y tế, môi trường sống, giao thông, an toàn, không gian văn hóa và cơ hội nghề nghiệp. Vì vậy, chính sách nhân tài thực chất là chính sách phát triển không gian đô thị thân thiện, tiện nghi, văn minh, đáng sống.
Một vấn đề khác có tính quyết định là tài chính đô thị. Không thể xây dựng siêu đô thị bằng một cơ chế mà chính quyền địa phương thiếu khả năng chủ động tạo lập nguồn lực. Hệ thống metro, đường vành đai, giao thông liên vùng, hạ tầng số, xử lý nước, chống ngập và các công trình công cộng quy mô lớn đều cần nguồn vốn rất lớn. Do đó, tự chủ tài chính phải trở thành một bộ phận của tự chủ đô thị.
Luật phát triển đô thị cho phép Thành phố tiếp nhận nguồn bổ sung cho ngân sách Thành phố từ ngân sách Trung ương với điều kiện chính quyền Thành phố xác định rõ ràng mục tiêu sử dụng ngân sách bổ sung. Bên cạnh đó, Thành phố cần có khả năng khai thác tốt hơn giá trị kinh tế được tạo ra từ quá trình đô thị hóa, huy động nguồn lực tư nhân, phát triển các công cụ tài chính đô thị và sử dụng hiệu quả nguồn thu để đầu tư trở lại cho hạ tầng. Mục tiêu cuối cùng không phải là "có nhiều tiền hơn để chi tiêu", mà là có nhiều công cụ hơn để đầu tư cho tăng trưởng dài hạn.
Nếu nhìn rộng ra Đông Nam Á, TPHCM đang đứng trước một cuộc cạnh tranh mới. Singapore có lợi thế đặc biệt về tài chính, logistics và môi trường kinh doanh. Bangkok có quy mô thị trường và hệ thống đô thị lớn. Kuala Lumpur có nền tảng tài chính và dịch vụ. Jakarta có quy mô dân số và thị trường khổng lồ.
TPHCM không nhất thiết phải sao chép bất kỳ mô hình nào. Lợi thế của Thành phố nằm ở khả năng kết hợp thị trường lớn, nền sản xuất công nghiệp, vị trí địa kinh tế, cảng biển, nguồn nhân lực trẻ, hệ sinh thái doanh nghiệp và khả năng kết nối với nền kinh tế Việt Nam. Vấn đề là phải biến những lợi thế rời rạc đó thành một cấu trúc thống nhất. Nếu làm được điều đó, TPHCM có thể không chỉ là thành phố lớn nhất Việt Nam mà còn trở thành một cực tăng trưởng quan trọng của Đông Nam Á.
Cơ hội trước mắt của TPHCM vì thế không đơn giản là mở rộng đô thị. Mục tiêu thực sự phải là nâng cấp vị thế của đô thị trong mạng lưới kinh tế khu vực và toàn cầu. Luật Phát triển đô thị mới tạo ra khung pháp lý. Nhưng luật chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ nằm ở năng lực thực thi của chính quyền, chất lượng quy hoạch, khả năng huy động vốn, chất lượng nguồn nhân lực và đặc biệt là khả năng xây dựng một hệ thống quản trị minh bạch, hiệu quả, có trách nhiệm giải trình.
TPHCM đang có một cơ hội lịch sử. Nếu tận dụng được cơ hội này, Thành phố có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới: từ một đô thị lớn trở thành một siêu đô thị đa trung tâm, đa chức năng của Việt Nam và một cực kinh tế có sức cạnh tranh của Đông Nam Á và thế giới. Thách thức lớn nhất không phải là chúng ta có đủ đất để xây dựng một siêu đô thị hay không. Thách thức lớn hơn là chúng ta có đủ năng lực thể chế, tầm nhìn quy hoạch và sự chủ động trong quản trị để biến không gian ấy thành một siêu đô thị thực sự hay không.
Luật Phát triển đô thị mới được thông qua đã mở cánh cửa. Phần còn lại là cách TPHCM bước qua cánh cửa đó.
Viện sĩ, PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐIỆN