Việc Khánh Bình trở thành CKQT mở thêm hướng kết nối trực tiếp giữa An Giang với Kandal, Phnom Penh và thị trường Campuchia đồng thời tạo điều kiện để hàng hóa ĐBSCL tiến sâu hơn vào ASEAN. Nhưng để một CK trở thành động lực tăng trưởng, lợi thế vị trí phải được chuyển thành năng lực kết nối, từ giao thông (GT), logistics đến vùng sản xuất (SX) và DN.
Từ cửa khẩu đến trung tâm giao thương, logistics
Cửa khẩu quốc tế đường bộ Khánh Bình nằm ở cuối Quốc lộ (QL) 91C, kết nối trực tiếp với CK Chrey Thom của tỉnh Kandal, Campuchia qua cầu Long Bình, Chrey Thom. Từ đây, An Giang kết nối với Kandal và thủ đô Phnom Penh, cách khoảng 75 km. Đây là lợi thế quan trọng để Khánh Bình trở thành đầu mối đưa hàng hóa từ ĐBSCL tiếp cận thị trường Campuchia.
Sau khi được nâng cấp thành CKQT, Khánh Bình không chỉ có thêm điều kiện mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) mà còn đứng trước cơ hội hình thành không gian kinh tế mới gắn với thương mại, dịch vụ, vận tải và logistics. Tuy nhiên, lợi thế địa lý tự thân không tạo nên 1 trung tâm giao thương, 1 CK chỉ thực sự phát huy vai trò động lực khi phía sau nó hình thành được hệ thống giao thông, kho bãi, vận tải, trung chuyển và dịch vụ hỗ trợ XNK đủ năng lực phục vụ dòng hàng hóa ngày càng lớn.

Cửa khẩu quốc tế Khánh Bình, tỉnh An Giang
Đây cũng là lý do việc nâng cấp Khánh Bình lên CKQT cần được nhìn trong không gian rộng hơn phạm vi 1 điểm thông quan. An Giang hiện có 4 CKQT gồm Tịnh Biên, Hà Tiên, Vĩnh Xương, Khánh Bình. Trong đó, Khánh Bình, Chrey Thom là cặp CKQT thứ 2 kết nối An Giang với tỉnh Kandal, sau Vĩnh Xương, Kaam Samnor. Hệ thống này tạo thêm điều kiện để tỉnh phát triển thương mại biên giới, logistics và các dịch vụ gắn với kinh tế CK.
Ở góc độ quy hoạch, Khu kinh tế (KKT) CK An Giang được xác định là tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, gồm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, đô thị và nông, lâm, ngư nghiệp gắn với các CKQT. Không gian này được định hướng trở thành đầu mối giao thông quan trọng, trung tâm giao lưu kinh tế giữa các nước tiểu vùng sông Mekong, đặc biệt trong quan hệ với Campuchia, đồng thời là một trong những động lực phát triển kinh tế của vùng biên giới.
Từ góc độ này, bài toán hạ tầng trở thành một trong những điều kiện quyết định. Ông Nguyễn Hữu Sương - Phó trưởng Ban Thường trực Ban quản lý KKT tỉnh An Giang - cho biết những năm gần đây hoạt động XNK qua CK Khánh Bình có nhiều chuyển biến tích cực. Để tạo thêm động lực phát triển kinh tế khu vực biên giới, Ban quản lý KKT tỉnh sẽ tham mưu đầu tư, nâng cấp QL91C, ĐT957, tuyến đường vào CK; đồng thời nghiên cứu các giải pháp tổ chức giao thông, vận tải và kết nối logistics nhằm tạo thuận lợi cho hàng hóa, giảm thời gian, chi phí cho DN. Đây là hướng đi cần thiết, bởi chi phí và thời gian vận chuyển luôn quyết định sức cạnh tranh của hàng hóa. Khi những dịch vụ này cùng phát triển, CK bắt đầu tạo ra giá trị ngay tại địa bàn thay vì chỉ là nơi hàng hóa dừng lại để làm thủ tục.
Thực tế, khu vực CK hiện có 7 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 470 tỷ đồng. Tỉnh cũng định hướng hình thành Trung tâm logistics CK Khánh Bình, kết nối với QL91, sông Bình Di và các tuyến giao thông mới. Đây là những tiền đề quan trọng để từng bước hình thành chuỗi dịch vụ phục vụ hàng hóa XNK.
Quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021 - 2030 cũng cho thấy Khánh Bình đã có những nền tảng hạ tầng đáng kể, gồm Trạm kiểm soát liên hợp diện tích 7,5 ha, hạ tầng Khu thương mại - dịch vụ 34,42 ha và hệ thống xử lý nước thải công suất 700 m³/ngày - đêm đã xây dựng xong, đang hoàn thiện thủ tục môi trường, tạo tiền đề để khu vực CK phát triển các chức năng thương mại, dịch vụ và logistics theo hướng đồng bộ hơn.
Nhưng hạ tầng CK chỉ là một mắt xích, vấn đề lớn hơn là phải tổ chức được cả hệ thống phía sau CK. Nếu hàng hóa đến Khánh Bình vẫn phải qua nhiều khâu trung chuyển không hợp lý, thiếu kho bãi, thiếu dịch vụ logistics chuyên nghiệp hoặc giao thông kết nối chưa đồng bộ, lợi thế khoảng cách sẽ khó chuyển thành lợi thế cạnh tranh.Vì vậy, mục tiêu đưa tổng giá trị hàng hóa XNK qua cặp CK Khánh Bình, Chrey Thom đạt khoảng 1,2 tỷ USD vào năm 2030 không chỉ là bài toán tăng năng lực thông quan, con số ấy đòi hỏi hệ sinh thái kinh tế đủ sức tiếp nhận, lưu chuyển và tạo thêm giá trị cho dòng hàng hóa.
Đây là mục tiêu lớn, nhưng cũng là phép thử đối với năng lực tổ chức không gian phát triển của An Giang. Bởi một CKQT không thể vận hành hiệu quả nếu chỉ có cổng kiểm soát hiện đại mà thiếu những tuyến đường đủ năng lực, thiếu trung tâm logistics, thiếu dịch vụ hỗ trợ và thiếu sự liên kết với các vùng SX.
Nối cửa khẩu với vùng sản xuất
Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang - Lê Trung Hồ cho rằng lợi thế của An Giang không chỉ nằm ở đường biên giới mà còn ở vị trí kết nối với vùng SX lớn của ĐBSCL. Từ các CK của tỉnh, lúa gạo, thủy sản, nông sản chế biến, hàng tiêu dùng cùng nhiều mặt hàng khác của An Giang và ĐBSCL có thể tiếp cận thị trường Campuchia thuận lợi hơn. Ở chiều ngược lại, hàng hóa từ Campuchia qua An Giang có thêm tuyến kết nối tới các trung tâm SX, tiêu thụ của ĐBSCL. Nhận định này gợi mở cách tiếp cận khác về kinh tế CK. Khánh Bình không nên chỉ được xem là điểm cuối của QL91C, mà phải trở thành "mắt xích" trong mạng lưới vận chuyển hàng hóa của cả vùng.
Điều này càng có ý nghĩa khi năng lực SX của An Giang và ĐBSCL đang tạo ra nguồn hàng lớn. Báo cáo kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2026 cho thấy kim ngạch xuất khẩu (XK) của An Giang đạt khoảng 1,643 tỷ USD, tăng 8,22% so với cùng kỳ. Riêng XK thủy sản đạt 653 triệu USD, tăng 31,29%; sản lượng thủy sản đông lạnh tăng 22,22% và xay xát gạo tăng 20,23%. Thế nhưng, cũng trong 8 tháng, tổng kim ngạch XNK qua các CK của An Giang chỉ đạt khoảng 742,19 triệu USD, giảm 22% so với cùng kỳ. Kim ngạch XK qua CK giảm 22,2%, còn nhập khẩu giảm 21,7%.
Sự tương phản này cho thấy năng lực SX, chế biến và XK của tỉnh đang tăng, nhưng dòng hàng qua hệ thống CK lại giảm, đặt ra yêu cầu phải tháo gỡ những điểm nghẽn, rào cản trong kết nối, tổ chức vận tải và logistics để năng lực SX phía sau có thể gặp được thị trường phía trước. Nói cách khác, muốn có dòng hàng ổn định phải tạo ra dòng kết nối ổn định từ vùng nguyên liệu đến nhà máy, từ nhà máy đến DN logistics, từ logistics đến CK và từ CK đến thị trường.
Để thực hiện, An Giang đang nghiên cứu các tuyến kết nối từ cao tốc Châu Đốc, Cần Thơ, Sóc Trăng đến các CKQT Tịnh Biên và Khánh Bình, trong đó có hướng kết nối trực tiếp với QL91C, không chỉ giúp rút ngắn hành trình vận chuyển mà còn mở rộng không gian thu hút đầu tư, hình thành các điểm dịch vụ và tạo thêm động lực phát triển kinh tế vùng biên.
Như vậy, bài toán của Khánh Bình không còn là "làm sao để hàng hóa qua CK nhanh hơn", mà phải tiến thêm một bước: Làm sao để vùng SX của ĐBSCL kết nối với thị trường thông qua CK một cách hiệu quả nhất. Từ góc nhìn của DN, một thị trường mới chỉ trở thành cơ hội khi DN có khả năng đưa hàng đến thị trường với chi phí hợp lý, thời gian ổn định và chất lượng được bảo đảm. Vì vậy, năng lực cạnh tranh của CK cũng chính là năng lực cạnh tranh của DN sử dụng CK. Đối với hàng hóa trong lĩnh vực nông nghiệp, yêu cầu còn cao hơn, liên quan đến chất lượng, nguồn gốc, bao bì và khả năng truy xuất. Vì vậy, kết nối CK với vùng SX cũng đồng nghĩa với việc đặt ra yêu cầu nâng chất lượng SX, chế biến và tổ chức lại chuỗi cung ứng.
Khi đó, logistics phải được tính ngay từ nơi sản phẩm bắt đầu rời vùng nguyên liệu; trong khi kho chứa, bảo quản, phương tiện vận tải, điểm tập kết, chế biến và đóng gói đều phải được tổ chức hợp lý. Nếu làm được điều này, chi phí logistics giảm xuống, thời gian lưu chuyển được rút ngắn và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường cũng cao hơn. Từ giao thông đến logistics, từ DN đến vùng nguyên liệu, tất cả phải được đặt trong chuỗi liên kết.
Chủ tịch UBND tỉnh An Giang - Hồ Văn Mừng cho biết tỉnh sẽ từng bước hoàn thiện các tuyến giao thông kết nối cửa khẩu (CK), phát triển trung tâm logistics, hiện đại hóa quản lý CK bằng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; đồng thời thu hút đầu tư vào thương mại, dịch vụ, logistics và kết nối các vùng SX của tỉnh, ĐBSCL với thị trường Campuchia. Định hướng này cho thấy tư duy về kinh tế CK đang được mở rộng. Cửa khẩu không chỉ là nơi hàng hóa đi qua mà phải trở thành nơi tạo ra giá trị cho hàng hóa. Muốn vậy, Khánh Bình phải được kết nối với khu, cụm công nghiệp, doanh nghiệp (DN) logistics, vùng nguyên liệu và hệ thống phân phối của toàn vùng.
Nhìn từ đó, lợi thế lớn nhất của Khánh Bình không chỉ nằm ở vị trí biên giới mà ở khả năng kết nối. Khi giao thông, CK, logistics, DN và vùng SX được đặt trong cùng một chuỗi, CK mới có thể chuyển từ một điểm thông quan thành mắt xích quan trọng trong không gian phát triển của An Giang và ĐBSCL.
Quy hoạch tỉnh cũng đặt yêu cầu mở rộng, điều chỉnh không gian KKT cửa khẩu nhằm phát huy tổng hợp lợi thế của các khu vực CK, kết nối với hành lang kinh tế - xã hội Châu Đốc, Cần Thơ và hành lang kinh tế biên giới. Tỉnh định hướng tập trung đầu tư hạ tầng, trang thiết bị hiện đại, đồng bộ tại các khu vực CK, nâng cấp đường giao thông dẫn đến CK và từng bước hướng tới xây dựng CK số, CK thông minh.
Điều đó cho thấy Khánh Bình đang đứng trước một cơ hội lớn, nhưng cơ hội chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được chuyển hóa bằng những năng lực cụ thể. Đó là năng lực vận chuyển, năng lực logistics, năng lực thu hút đầu tư, năng lực tổ chức vùng SX và năng lực đưa hàng hóa đến thị trường với chi phí cạnh tranh.