TP.Hồ Chí Minh sau sáp nhập là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, được Trung ương định hướng trở thành đô thị văn minh, hiện đại, đổi mới sáng tạo và có vị trí nổi trội ở Đông Nam Á vào năm 2030. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ I, Thành phố đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 30–40% GRDP, tổng chi cho R&D đạt 2–3% GRDP và duy trì 4–5% ngân sách dành cho khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, TP.Hồ Chí Minh cần các công cụ tài chính chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển công nghệ mới, thương mại hóa nghiên cứu và hình thành doanh nghiệp công nghệ quy mô lớn.

TP.Hồ Chí Minh kỳ vọng Trung tâm Tài chính quốc tế góp phần nâng cao vị thế của Thành phố với vai trò là trung tâm kinh tế - tài chính lớn của Việt Nam
Có thể nói, việc đưa vào vận hành Trung tâm Tài chính quốc tế, Thành phố kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao vị thế với vai trò là trung tâm kinh tế - tài chính lớn của Việt Nam, là cửa ngõ kết nối hiệu quả các dòng vốn, dịch vụ tài chính và tri thức quốc tế, qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế, Thành phố mong muốn thu hút mạnh mẽ các định chế tài chính, quỹ đầu tư, doanh nghiệp và công nghệ tài chính hàng đầu, đồng thời hình thành hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại, minh bạch, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong nước và khu vực.
Đồng thời, đây sẽ là không gian tạo đột phá về thể chế, cơ chế chính sách và môi trường đầu tư - kinh doanh, là nơi hội tụ và phát triển nguồn nhân lực tài chính - công nghệ chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và lan tỏa động lực phát triển ra toàn Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có tính dự báo cao, bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền chuyển vốn, lợi nhuận hợp pháp của nhà đầu tư, đồng thời phát triển đa dạng các thị trường và sản phẩm tài chính, góp phần thu hút hiệu quả các dòng vốn trung và dài hạn, vốn đầu tư gián tiếp và vốn tài chính xanh.

Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh chính thức đi vào hoạt động vào ngày 11/02/2026. Ảnh: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh chiêng chính thức ra mắt Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh
Chia sẻ về cơ chế phát triển IFC, ông Quách Ngọc Tuấn, Phó Giám đốc Sở Tài chính Thành phố cho rằng, TP.Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại lớn nhất cả nước, có vai trò kết nối ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Việc xây dựng IFC không chỉ là yêu cầu khách quan của phát triển, mà còn là bước đi chiến lược nhằm nâng tầm vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính toàn cầu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, thành phố cam kết đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện khung pháp lý theo hướng thông thoáng, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế; phát triển đồng bộ hạ tầng tài chính – đô thị – số; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bảo đảm môi trường đầu tư an toàn, minh bạch, hiệu quả và bền vững.
Bên cạnh đó, Nhà nước sẽ áp dụng các chính sách ưu đãi vượt trội về thuế, phí, đất đai và hạ tầng, triển khai cơ chế thủ tục hành chính một cửa, nhanh gọn, tạo điều kiện thuận lợi cho các định chế tài chính, nhà đầu tư và chuyên gia trong và ngoài nước tham gia hoạt động tại Trung tâm Tài chính quốc tế.
Để chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ Trung tâm Tài chính quốc tế, ông Quách Ngọc Tuấn cho biết, ngay từ rất sớm, Thành phố đã cử cán bộ, công chức tham gia học tập tại các Trung tâm tài chính lớn, tại các viện, trường trong nước để có kinh nghiệm thực tế đảm nhiệm các vị trí then chốt trong Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh cho rằng, trong thời gian tới, cụm cảng Cái Mép – Thị Vải và Cần Giờ sẽ trở thành một trong những cụm cảng có lưu lượng hàng hóa trung chuyển thuộc nhóm lớn trên thế giới và định hướng IFC-HCMC là kết hợp giữa Khu thương mại tự do và Trung tâm Tài chính quốc tế.
Do hiện nay có khoảng 70–80% các giao dịch tài chính liên quan đến hàng hóa thông qua các cảng này lại đang được thực hiện tại Singapore. Điều này tạo ra một nghịch lý, Việt Nam là cảng trung chuyển hàng hóa quốc tế, nhưng các giao dịch tài chính lại diễn ra ở một quốc gia khác. Nguyên nhân là bởi Singapore có môi trường dòng vốn lưu chuyển tự do và thông thoáng hơn so với các quy định hiện hành tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, việc hình thành IFC với cơ chế cho phép dòng vốn lưu chuyển tự do, tương tự như Singapore, sẽ mở ra cơ hội kết hợp IFC với Khu thương mại tự do với mục tiêu là thu hút các giao dịch tài chính gắn với hoạt động cảng quay trở lại và được thực hiện ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Khi các giao dịch tài chính này được thực hiện trong nước, Việt Nam sẽ thu được nguồn phí rất lớn, đồng thời từng bước hình thành nền tảng để trở thành Trung tâm Tài chính quốc tế trong tương lai.
Thực tế cho thấy, mô hình của Singapore cũng được xây dựng dựa trên hệ thống cảng, bao gồm cảng trung chuyển quốc tế đường biển và cảng trung chuyển quốc tế đường không. Từ nền tảng đó, Singapore mới phát triển thành trung tâm tài chính quốc tế. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, đa số các trung tâm tài chính quốc tế đều được đặt tại các cảng lớn, như Hồng Kông, Singapore, Dubai hay các trung tâm truyền thống như Frankfurt, Amsterdam. Do đó, việc tận dụng lợi thế cảng biển để kết hợp với trung tâm tài chính quốc tế sẽ giúp gia tăng đáng kể khối lượng giao dịch tài chính.

Các thành viên sáng lập của VIFC-HCMC gồm: Tập đoàn Sovico; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TPBank); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB); Đại diện Công ty Cổ phần Sơn Kim Capital; Vina cap; Nasdaq
Ông Nguyễn Hữu Huân cho biết thêm, đối với chính sách tại khu thương mại tự do, hiện nay các khung chính sách cơ bản đã được hình thành, đặc biệt là các chính sách liên quan đến thuế và thủ tục thông quan, vốn thuận lợi hơn so với các quy định hiện hành trong nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng, chính sách miễn thuế chỉ là điều kiện cần. Nếu Việt Nam không áp dụng thì sẽ không cạnh tranh được, nhưng việc miễn thuế không phải là điều kiện đủ.
Điều kiện đủ nằm ở việc xây dựng một mô hình hiện đại, có khả năng giải quyết những hạn chế hiện tại của giao dịch tài chính và thương mại. Ví dụ, các giao dịch thanh toán L/C hiện nay thường mất từ 7 đến 10 ngày, trong khi nếu áp dụng các mô hình mới như hợp đồng thông minh (smart contract), blockchain, thì thời gian giao dịch có thể rút ngắn xuống còn khoảng 24 giờ. Điều này giúp giảm đáng kể thời gian xử lý và phê duyệt giao dịch, qua đó tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, cũng cần nghiên cứu khả năng chấp nhận các đồng tiền thanh toán như stablecoin trong phạm vi khu thương mại tự do, bởi đây là phương thức thanh toán đã được sử dụng tương đối phổ biến trên thế giới. Việc này cần đi kèm với nghiên cứu sự liên thông giữa hệ thống ngân hàng truyền thống và các mô hình ngân hàng liên quan đến tài sản số.
Về vấn đề luân chuyển tiền tệ, hiện nay đang có đề xuất cho phép việc luân chuyển tiền trong khu thương mại tự do được thực hiện theo các quy chế của IFC. Theo đó, IFC sẽ đóng vai trò mang tính chiến lược về mặt tài chính và giao dịch trong các khu thương mại tự do trong thời gian tới.
Phó Chủ tịch Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh khẳng định, sự kết nối giữa Khu thương mại tự do và Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ tạo ra sự cộng hưởng, giúp hàng hóa lưu chuyển nhanh hơn, hiệu quả hơn và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Theo Hiệp hội thương mại Mỹ (Amcham), việc thành lập các Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng là một trong những cải cách đột phá trong những năm gần đây. Nếu được triển khai đầy đủ, các Trung tâm này có thể đưa Việt Nam trở thành một trung tâm khu vực về vốn và tài chính xanh.
Để đạt được mục tiêu đó, duy trì tính độc lập trong quản lý pháp lý, đảm bảo sự minh bạch trong luồng vốn và xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp đáng tin cậy sẽ là những yếu tố then chốt.
Amcham cũng rất lạc quan khi ghi nhận việc Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên mức “Thị trường mới nổi thứ cấp” có điều kiện. Đồng thời, khuyến khích chính quyền TP.Hồ Chí Minh tiếp tục nỗ lực đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để đạt được nâng hạng chính thức vào năm 2026, vì điều này sẽ gửi đi một tín hiệu mạnh mẽ về mức độ mở cửa và trưởng thành của thị trường Việt Nam, đồng thời mở ra dòng vốn đầu tư đáng kể từ quốc tế.
Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Cường, Việt Nam từ lâu đã là một trong những nền kinh tế thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) rất tốt. IFC ra đời cũng sẽ hỗ trợ việc huy động vốn từ bên ngoài, nhưng đó chỉ là một trong những mục tiêu. Yếu tố quan trọng hơn, đây sẽ là cầu nối, động lực, chất xúc tác để Việt Nam cân nhắc mở cửa thị trường tài chính.
Trong khi đó, Luật sự Trần Anh Đức, Công ty Luật Allen Overy Shearman Sterling, Việt Nam cho rằng, việc thành lập Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội đón đầu các dòng vốn dịch chuyển toàn cầu, tạo điều kiện tiếp cận và ứng dụng các xu hướng tài chính hiện đại, cũng như phát triển các dịch vụ phụ trợ trong Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam. Để Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam thực sự phát huy vai trò là động lực phát triển kinh tế - xã hội, việc xây dựng một khung pháp lý toàn diện và phù hợp với thông lệ quốc tế là điều kiện tiên quyết.
Với sự ra đời và bắt đầu vận hành IFC-HCM, TP.Hồ Chí Minh kỳ vọng sẽ trở thành không gian đột phá về thể chế, là nơi thử nghiệm các mô hình và sản phẩm tài chính mới theo cơ chế kiểm soát rủi ro phù hợp, qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính Việt Nam.