Đê bao "bủa vây" đồng bằng, mối nguy khó lường

Thứ Năm, 22/10/2026 09:11  | Nguyễn Nhân

|

(CATP) Suốt nhiều năm qua, những ô đê bao khép kín ở miền Tây được xem là "lá chắn" giúp ngăn lũ, chặn mặn và giữ cho nông dân yên tâm sản xuất 3 vụ. Thế nhưng chính sách bao đê quá mức như hiện nay lại đang đẩy Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) vào vòng lẩn quẩn về sinh thái.

Hệ quả thấy rõ nhất là bài toán nguồn nước ngày càng cực đoan. Mùa khô, cả vùng "khát" ngọt, hạn mặn bủa vây. Đến mùa mưa, nước không có chỗ thoát, cộng thêm thủy triều dâng cao khiến nhiều nơi ngập sâu.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện - chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái vùng ĐBSCL, hiện nay ĐBSCL có tới hơn 4.000 ô đê bao khép kín, chiếm gần 1 triệu ha, trong đó 190 ô đê bao với tổng diện tích 38.000 ha đang bị đe dọa. Ở góc nhìn nông nghiệp thâm canh tăng vụ, trước mắt cần phải gia cố đê bao thêm nữa để bảo đảm an toàn cho các vùng nông nghiệp đang được bảo vệ khỏi nước lũ và thủy triều. Nhưng nếu đứng ở bình diện toàn đồng bằng và nhìn dài hạn thì câu hỏi đặt ra là nếu đi theo con đường tiếp tục gia cố đê bao, xây thêm đê bao thì tương lai sẽ thế nào.

Các vùng ở ĐBSCL vào mùa nước có độ ngập sâu khác nhau, như ở Tứ giác Long Xuyên (TGLX) và Đồng Tháp Mười (ĐTM) vào những năm nước cao có thể ngập đến 3 - 4m, vùng giữa khoảng trên 1 m, vùng ven biển ngập khoảng 0,2 - 0,5m theo chu kỳ triều. Nếu tính bình quân ngập 1 - 1,5 m thì đê bao khép kín đã choán chỗ khoảng 10 - 15 tỉ m3. Có thể thấy đê bao khép kín đã triệt tiêu không gian hấp thu lũ, làm nước dâng cao ở nơi khác và các lòng sông. Nếu tiếp tục gia cố đê bao chống lũ cho nông nghiệp thâm canh như hiện nay, tương lai đồng bằng có thể nhìn thấy được gồm 6 nhóm vấn đề.

Thu hoạch lúa trong ô đê ở An Giang

Một là ngập đô thị ngày càng sâu hơn. Bởi khi triệt tiêu không gian chứa lũ tự nhiên ở hai túi lớn (ĐTM, TGLX), hàng tỷ mét khối nước không có chỗ đáp sẽ bị đẩy dồn xuống hạ lưu. Kết quả là các đô thị trung tâm như TP. Cần Thơ hay Vĩnh Long sẽ ngập ngày càng sâu, đỉnh lũ nội đồng bị đẩy lên các mức kỷ lục mới. Khi các đô thị này bị ngập lại cần phải được bảo vệ bằng đê bao khép kín, nhưng khi đắp nơi này thì chỗ khác sẽ ngập sâu, càng đắp càng ngập và di dời vấn đề sang nơi khác. Có thể nói ĐBSCL đã bước vào cuộc đua "Đê Tinh - Thủy Tinh" không có hồi kết, chẳng có lối ra.

Hai là đồng bằng mất phù sa và suy kiệt dinh dưỡng. Hệ thống đê bao khép kín cắt đứt dòng chảy tràn đồng khiến đất đai bên trong đê không được tháu chua rửa phèn, bồi đắp phù sa hàng năm. Đất bị bạc màu nhanh chóng, nông dân bắt buộc phải lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, làm suy giảm chất lượng nông sản và ô nhiễm nguồn nước ngầm.

Ba là mất tôm cá và sinh kế mùa lũ. Hệ sinh thái sông ngòi bị suy thoái do tôm, cá tự nhiên không thể vào đồng ruộng để sinh sản, triệt tiêu sinh kế và nguồn dinh dưỡng của hàng triệu người nhờ vào mùa nước nổi.

Bốn là gia tăng nguy cơ vỡ đê. Nước lũ bị dồn ép trong các lòng kênh rạch chật hẹp sẽ tạo ra áp lực thủy lực cực lớn lên chân đê. Khi biến đổi khí hậu gây ra các trận lũ bất thường trùng với kỳ thủy triều dâng cao, nguy cơ vỡ đê bao diện rộng là rất lớn, nhất là ở những cù lao giữa sông Tiền, sông Hậu nơi nước bị dâng cao do thiếu không gian lan tỏa. Hiện đã có 38.000 ha trong đê bao đang bị đe dọa.

Năm là gánh nặng ngân sách ngày càng tăng. Chi phí duy tu bảo dưỡng hệ thống đê bao khổng lồ này sẽ gia tăng theo thời gian cùng với tuổi của công trình. Tiếp tục đi theo hướng gia cố duy trì hệ thống đê bao này sẽ là gánh nặng triền miên cho ngân sách hiện nay và mãi mãi về sau.

Sáu là khô hạn cực đoan hơn. Vì mùa lũ, các vùng trong đê bao không nhận nước vào nên sang đến mùa khô khi sông Mekong yếu đi thì đồng bằng cũng khô hạn hơn làm cho biển đẩy sâu hơn vào đất liền theo chu kỳ thủy triều.

Về giải pháp, chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện lưu lý: Nếu cứ tiếp tục cuộc đua "Đê Tinh - Thủy Tinh" thì chắc chắn vấn đề ngày càng nghiêm trọng hơn, không có lối ra. Chìa khóa giải quyết vấn đề gia tăng ngập nằm ở sự chuyển hướng nền nông nghiệp theo hướng phù hợp với quy luật tự nhiên, giảm thâm canh, giảm đê bao để phục hồi không gian cho dòng sông.

Cụ thể, những thay đổi sau đây theo phân vùng của Quy hoạch tích hợp ĐBSCL cần được xem xét.

Đối với vùng ngập sâu (TGLX, ĐTM), tại vùng thượng nguồn, giải pháp cốt lõi là mở đê bao khép kín để xả lũ đón phù sa, chuyển từ làm lúa vụ 3 (vụ Thu Đông) sang các mô hình kết hợp tận dụng nguồn lợi thủy sản như mô hình lúa - cá hay lúa - tôm càng xanh, mô hình lúa - sen (hoặc du lịch mùa nước nổi). Đối với vùng nước lợ (vùng chuyển tiếp và cửa sông): Ở khu vực thấp hơn, nơi ngọt pha với nước mặn thành nước lợ, có thể tiến hành các mô hình như lúa - tôm (ngọt - lợ theo mùa).

Đối với vùng mặn, ven biển có thể thực hiện mô hình tôm rừng quảng canh dưới tán rừng và các mô hình khác phù hợp với nước mặn. "Sự chuyển dịch này phù hợp với phân vùng của Quy hoạch tích hợp ĐBSCL, giúp khu vực này biến "thiên tai" (lũ lụt, xâm nhập mặn) thành "thiên thời", giảm dần việc phụ thuộc vào hệ thống đê bao, đô thị sẽ bớt ngập sâu, đồng ruộng nhận được phù sa, tôm cá, sông ngòi được lưu thông giảm ô nhiễm để có thể giảm sử dụng nước ngầm. Và như vậy, mỗi mùa nước đến đồng bằng không còn bị ám ảnh bởi ngập và mỗi mùa khô đến không còn bị ám ảnh về xâm nhập mặn" - chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện nhấn mạnh.

Bình luận (0)

Lên đầu trang