(CATP) Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ". Trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, niềm tự hào ấy càng trở nên rực rỡ. Những người phụ nữ Việt Nam không chỉ là hậu phương vững chắc mà còn là những đoá hoa lửa, đã viết nên những trang sử hào hùng, dung hòa giữa sự kiên cường phi thường và lòng tận tụy hy sinh thầm lặng giữa mưa bom bão đạn. Đã hơn nữa thế kỷ trôi qua nhưng những câu chuyện của họ vẫn còn được nhắc mãi, khiến lớp lớp cháu con thêm tự hào về những người phụ nữ Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất.
Khi nghe tin vợ được Tỉnh ủy Trà Vinh tổ chức cho đi thăm chồng, theo đường du kích, trong hơn hai tháng mới tới cơ quan chồng ở rừng miền Đông, anh Nguyễn Đức Toàn (Tư Toàn) bồi hồi, xúc động kể lại: "Về tới cơ quan nghe tin vợ lên chờ ngoài rẫy. Tôi chạy vội ra rẫy, vợ chồng gặp nhau, vợ tôi nước mắt cứ chảy ròng ròng. Tôi nghĩ không phải chỉ có thanh niên trai tráng như chúng tôi mới kiên cường lội bộ từ căn cứ rừng Cà Mau về chiến khu miền Đông Nam bộ, mà một người phụ nữ như vợ tôi cũng đi bộ ròng rã hai tháng trời từ Trà Vinh đến đây để thăm chồng.
Tôi thật sự thán phục tinh thần và ý chí của vợ mình và chợt nghĩ kỳ công đi R của mình cũng chẳng đáng gì so với ý chí của vợ tôi. Tôi trở về cơ quan định báo cáo tình hình chuyến công tác Mỹ Tho với lãnh đạo rồi sẽ xin phép cơ quan ra ngoài rẫy ở với vợ ít hôm. Nhưng tôi thật sự bất ngờ khi biết các đồng chí lãnh đạo đã cử người đưa vợ tôi vào cơ quan và bố trí cho hai vợ chồng ở một căn nhà riêng thật ấm cúng. Lòng tôi cứ xao xuyến, bâng khuâng, tràn dâng niềm hạnh phúc".

Liệt sĩ Nguyễn Thị Rẩy
Gặp lại chồng, chị Nguyễn Thị Rẩy vỡ òa bao cảm xúc: "Từ hôm anh đi, em trông mãi mà chẳng được thơ nào anh gởi về. Gần đây các chú chỉ đường đi R và kêu em đi thăm anh. Đường xa diệu vợi, ban đầu em không đủ can đảm nghĩ đến chuyện đi, nhưng thương anh, nhớ anh nên em quyết định một chuyến đi mạo hiểm! Má đã mất do máy bay Mỹ bỏ bom trúng ghe đi làm củi, khi anh được tin chắc anh buồn lắm, nên em quyết định phải đi thăm anh, báo cho anh biết, em sẽ an ủi phần nào cho anh.
Trên đường đi em gặp rất nhiều khó khăn, nhưng nhớ đến anh, em như được tăng thêm sức mạnh để vượt qua. Trên đường đi qua Bến Tre lúc ban đêm em đạp phải chông, máu chảy nhiều, nhờ dượng Út (Mười Ngọc) dìu dắt, chăm sóc em, chờ chân em bớt đau rồi cùng đi. Em tức anh ghê lắm! Đi xa nói ở lại hai ngày sau sẽ đi cũng không chịu. Đi rồi cũng không gởi thơ về cho vợ con, không cho người về móc nối đưa vợ lên thăm, em trông mỏi mòn. Em đi mấy tháng trời, mong lên tới nơi gặp chồng em sẽ quên hết mệt nhọc, nhưng khi đến nơi nghe nói anh đã đi công tác xa, em buồn muốn bệnh.
Các anh cứ động viên rồi hẹn lần, hẹn hồi, em đã mòn mỏi đợi trông, chừng một tuần nữa là em hết sức chịu đựng rồi! Tuần nay em đã bắt đầu hoài nghi, sợ anh đã chết nhưng các anh không dám nói với em, em cố tìm hiểu, điều tra, mấy đêm nay em không ngủ, không rõ anh đi hướng nào, đường nào. Ban ngày, em cứ đi lang thang dưới tán cây rừng, bẻ trái sim ăn cho đỡ buồn. Ban đêm, nghe súng nổ hướng nào cũng lo, cũng sợ biết đâu anh đang đi hướng đó. Vậy mà khi anh về hồi chiều rồi ra thăm em một lát, bỏ em ở lại một mình, thử hỏi em có đáng giận anh không? Em coi bộ anh làm việc riết rồi chắc hết nhớ thương vợ con, hết kể gì gia đình rồi. Nhưng có điều không hiểu tại sao khi vắng anh thì thắc mắc đủ điều, đến khi gặp anh rồi cứ thương anh nhiều hơn, không muốn rời anh một tí nào hết".

Chú bé Nguyễn Đoàn Kết (10 tuổi) khi đoàn tụ cùng ba mẹ trong căn cứ rừng miền Đông
Gặp chồng rồi, chị xin ở lại căn cứ Trung ương Cục miền Nam công tác. Chị nhận nhiệm vụ làm Tổ trưởng Tổ làm rẫy, góp phần tự túc, bảo đảm đời sống cho cả cơ quan Ban Dân vận R. Chiến dịch Mậu Thân năm 1968, lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam phát động các cơ quan của R dồn sức cho chiến dịch tổng tiến công giải phóng Sài Gòn. Lúc đó, chị Nguyễn Thị Rẩy đang công tác tại cơ quan Trung ương Đoàn, được tổ chức sắp xếp trong lực lượng "xuống đường" tiến về giải phóng Sài Gòn. Trong lúc anh Tư Toàn mải miết đi theo các đơn vị Thanh niên xung phong phục vụ cho các cánh quân chuẩn bị tiến đánh vào thành phố thì vợ anh cùng anh em các cơ quan R ra trận. Chị gởi cho anh lá thư bày tỏ lòng nhớ mong và hẹn gặp chồng ở Sài Gòn.
Chị Nguyễn Thị Rẩy "xuống đường", được tổ chức phân công làm giao liên công khai. Sau chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, Mỹ phản công dữ dội. Chị Nguyễn Thị Rẩy suýt bị địch bắt sống khi đổ quân bằng trực thăng. Sau đó, chị là Trung đội trưởng, phụ trách tổ giao liên của Ban Chỉ huy quân sự thành phố Sài Gòn. Theo đường giao liên công khai, chị tranh thủ về thăm gia đình. Gặp lại các con sau nhiều năm trời xa cách, chị ôm các con khóc như mưa. Cậu bé Đoàn Kết lên mười cứ đòi theo mẹ. Chị đưa con về Văn phòng Ban Chỉ huy quân sự thành phố, chờ khi có chuyến gởi con lên Tổng đội xung phong cho chồng. Cô em được ba mẹ đặt tên "Chiến Đấu" đành gởi lại cho ông bà ngoại. Sau này, chị Chiến Đấu kể lại: "Lúc ấy tôi còn rất nhỏ, không dám đòi được đi theo mẹ như anh Đoàn Kết. Mẹ ôm chặt tôi, hứa mai mốt mẹ sẽ về ở luôn bên con. Nhưng rồi...". Chị Chiến Đấu nghẹn ngào kể tiếp: "Tôi đâu ngờ đó là lần cuối cùng gặp mẹ. Mẹ tôi hy sinh trên đường đi công tác do máy bay Mỹ xả súng xuống địa hình vào đầu tháng 02/1971...".
Sau này, anh Nguyễn Đức Toàn xây dựng gia đình cùng chị Ngọc Châu (Út Nhì), cùng chung cơ quan Trung ương Đoàn với anh. Đứa con của hai người được sinh ra dưới cánh rừng, năm 1973. Anh đặt tên con với suy nghĩ: "Chúng tôi đặt tên cháu là "Thắng Mỹ” là có ý tiếp nối với hai anh chị của mẹ trước: Đoàn Kết, Chiến Đấu; đứa thứ ba này nhất định là "Thắng Mỹ”. Sau này, nhiều anh chị em trong cơ quan góp ý tên cháu gái có vẻ chính trị quá, một phần chúng tôi phải gởi cháu về cho dì Hai - một gia đình người bà con sống trong vùng giặc chiếm đóng. Sợ cái tên "Thắng Mỹ” sẽ lộ là con cán bộ, dì Hai bàn với chúng tôi đổi thành tên Ngọc Sa. Ngọc Sa cũng có cái ý là con quý như Ngọc, được đứa con như là được ngọc trên trời rớt xuống vậy. Vả lại mẹ là Ngọc Châu, con gái lấy chữ lót của mẹ luôn nên đặt là Ngọc Sa. Tên Ngọc Sa gắn liền với cháu luôn tới sau này".

Đồng bào huyện Châu Thành, Tây Ninh tải đạn và lương thực ra tiền tuyến (1968). Ảnh: Tư liệu TTXVN
Ý chí cho ngày hòa bình, thống nhất đất nước nằm trong cách đặt tên con trong của một gia đình cùng đi kháng chiến dưới cánh rừng Trung ương Cục miền Nam. Sau ngày hòa bình, thống nhất đất nước, đồng chí Nguyễn Đức Toàn (1932 - 2008), còn có tên Tư Toàn, Tư Dũng làm Bí thư Trung ương Đoàn phụ trách cải tạo nông nghiệp. Từ năm 1977, đồng chí được điều về tỉnh Cửu Long công tác và trải qua các nhiệm vụ: Thường trực Tỉnh ủy - Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, Trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam tại tỉnh CôngpôXpư (Campuchia), Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cửu Long. Trong mọi cương vị công tác, đồng chí Nguyễn Đức Toàn (Tư Toàn) luôn "giữ mình vẹn toàn như tên mình vậy!".
Còn chú bé Nguyễn Đoàn Kết, lúc vào rừng mới 10 tuổi đời đã có 1 tuổi quân. Sau khi đoàn tụ cùng ba mẹ trong căn cứ rừng miền Đông, cậu được đưa đến trường Nguyễn Văn Trỗi - trường nuôi dạy con em cán bộ công tác trong rừng, tham gia kháng chiến. Đoàn Kết được đưa ra miền Bắc học tập, dần trưởng thành, sau trở thành Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Anh mất ngày 23/11/2024, khi vừa kịp hoàn thành bản thảo quyển sách "Nguyễn Đức Toàn người con đất Giồng Thị” mà anh biên soạn cho cha mình.
Nữ Liệt sĩ Nguyễn Thị Rẩy, quê ở Càng Long, Trà Vinh. Chị là vợ đầu của đồng chí Nguyễn Đức Toàn (Tư Toàn). Khi chồng thoát ly vào chiến khu rừng miền Đông, chị ở lại quê nhà, tham gia đấu tranh chính trị, kiên cường vượt qua sự khủng bố của địch.