Hoàn thiện khung pháp lý xây dựng Chính phủ số trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Thứ Tư, 07/10/2026 08:40

|

(CAO) Trong tiến trình đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, việc xây dựng Chính phủ số gắn với tổ chức bộ máy chính quyền địa phương tinh gọn đang trở thành một yêu cầu tất yếu trong xây dựng và phát triển đất nước phù hợp với thờ đại và xu thế hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, mô hình chính quyền địa phương hai cấp - với định hướng giảm tầng nấc trung gian - đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản trị trong môi trường số. Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp giúp rút ngắn khoảng cách quản lý, giảm chồng chéo chức năng và tăng tính linh hoạt trong điều hành. Tuy nhiên, khi cắt giảm các tầng nấc trung gian, áp lực quản lý dồn về cấp cơ sở sẽ gia tăng. Trong bối cảnh đó, Chính phủ số chính là giải pháp quan trọng để mở rộng năng lực quản trị, tăng cường giám sát và nâng cao hiệu quả vận hành của bộ máy hành chính.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHÍNH PHỦ SỐ VÀ MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

Dưới góc độ khoa học hành chính và luật học, Chính phủ số (Digital Government) không chỉ là việc ứng dụng các phần mềm máy tính vào hoạt động của cơ quan nhà nước, mà là sự vận hành của Chính phủ dựa trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số nhằm đổi mới phương thức quản trị công, thiết kế lại cấu trúc tổ chức và tối ưu hóa quy trình cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội. Theo đó, Chính phủ số chuyển dịch trọng tâm từ quản lý hành vi sang quản trị dòng dữ liệu, thiết lập một không gian công quyền trực tuyến công khai và minh bạch; được thể hiện qua ba khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, về tinh gọn bộ máy gắn với chuyển đổi số. Việc tái cấu trúc bộ máy hành chính Nhà nước theo hướng tinh gọn luôn gặp phải rào cản về năng lực giám sát vật lý. Chuyển đổi số phá vỡ giới hạn này bằng cách tự động hóa quy trình nghiệp vụ, sử dụng trí tuệ nhân tạo và các thuật toán để thay thế các khâu kiểm duyệt trung gian hành chính. Qua đó, bộ máy giảm được áp lực về mặt nhân sự nhân sự thường trực, thúc đẩy việc cắt giảm các đầu mối tổ chức mà vẫn bảo đảm biên độ kiểm soát toàn diện, tiết kiệm đáng kể chi phí hành chính thường xuyên từ ngân sách.

Thứ hai, chuyển đổi phương thức điều hành và quản trị công. Quản trị truyền thống phụ thuộc nặng nề vào hệ thống văn bản giấy tờ, báo cáo định kỳ dẫn đến độ trễ thông tin lớn và nguy cơ sai lệch dữ liệu. Trong khi đó, Chính phủ số thiết lập phương thức điều hành dựa trên dữ liệu số theo thời gian thực (real-time data-driven governance). Các cấp lãnh đạo có thể theo dõi, chỉ đạo và giám sát tình hình thực tế thông qua các hệ thống điều hành thông minh trực quan, giúp tăng tốc độ ra quyết định hành chính, giảm thiểu tính chủ quan và nâng cao tính minh bạch giải trình.

Ảnh minh hoạ

Thứ ba, phát triển dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Bản chất của Chính phủ số trong phân phối dịch vụ công là dịch chuyển toàn bộ quy trình nghiệp vụ từ môi trường truyền thống (giao tiếp trực tiếp) sang môi trường mạng (giao tiếp số). Thay vì người dân phải di chuyển qua nhiều cơ quan để hoàn thiện một bộ hồ sơ, thì Chính phủ số thiết lập cơ chế liên thông tối đa để cung cấp dịch vụ công trực tuyến, giúp người dân và doanh nghiệp có thể giải quyết hồ sơ hành chính mọi lúc, mọi nơi, triệt tiêu chi phí cơ hội và các rủi ro tiêu cực phát sinh từ việc tiếp xúc trực tiếp với công chức.

Mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp (loại bỏ cấp hành chính trung gian, chỉ giữ lại cấp tỉnh và cấp cơ sở hoặc thiết lập mô hình chính quyền đô thị phù hợp) mang lại nhiều ưu điểm về việc rút ngắn khoảng cách giữa trung ương và địa phương. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của mô hình hai cấp là nguy cơ quá tải quản lý tại cấp cơ sở khi quyền lực và nhiệm vụ được dồn về một đầu mối gần dân nhất. Trong mối quan hệ biện chứng này, Chính phủ số chính là giải pháp thể chế và công cụ kỹ thuật để giải quyết bài toán quá tải nêu trên. Trong khi công nghệ số là “điều kiện cần” để khỏa lấp khoảng trống quản lý, mở rộng biên độ và năng lực kiểm soát của chính quyền khi thu hẹp đầu mối tổ chức hành chính; thì cấu trúc bộ máy hai cấp đóng vai trò là “địa bàn lý tưởng” để tối ưu hóa dữ liệu dùng chung. Do không bị phân mảnh thông tin bởi quá nhiều tầng nấc cục bộ, dữ liệu công có thể chạy thông suốt, đồng bộ theo trục dọc, giúp phát huy tối đa hiệu năng của kiến trúc Chính phủ số.

NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG THỰC TIỄN VẬN HÀNH

Thực tiễn triển khai mô hình chính quyền địa phương gắn kết chặt chẽ với chiến lược xây dựng Chính phủ số, hệ thống hành chính công tại Việt Nam đã đạt được những thành tựu mang tính đột phá, thể hiện qua các số liệu và mô hình thực tiễn:

Một là, kết quả về tinh gọn tổ chức bộ máy và nhân sự. Theo các báo cáo sơ kết thể chế, hệ thống hành chính công đã ban hành và thực thi đồng bộ 112 nghị định, nghị quyết quy định chi tiết về chuyển đổi số và cơ cấu lại bộ máy. Bộ máy hành chính đã thực hiện kiện toàn thành công 465 cơ quan chuyên môn và 9.916 phòng chuyên môn thuộc chính quyền địa phương các cấp theo hướng tinh giản, giảm chồng chéo chức năng. Đặc biệt, việc kiên quyết thực hiện các chính sách tinh giản biên chế đã giải quyết chế độ, chính sách thỏa đáng cho 75.710 nhân sự hành chính dôi dư hoặc không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, giảm đáng kể áp lực chi thường xuyên cho ngân sách.

Hai là, số hóa quy trình và liên thông dữ liệu dân cư. Việc đưa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư vào khai thác toàn diện và đồng bộ hóa qua ứng dụng định danh điện tử VNeID đã loại bỏ phần lớn các loại giấy tờ công dân truyền thống. Việc này tạo tiền đề cho sự ra đời của các quy trình hành chính liên thông phức hợp (ví dụ mô hình liên thông 3 trong 1: Đăng ký khai sinh - Đăng ký thường trú - Cấp thẻ bảo hiểm y tế). Theo thống kê, tỷ lệ giải quyết các thủ tục hành chính trọng điểm trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đều đạt mức trên 70%. Công tác đào tạo, tập huấn kỹ năng số cho cán bộ được thực hiện xuyên suốt qua hệ thống trực tuyến kết nối đến 3.300 điểm cầu trên toàn quốc.

Ba là, sáng kiến đổi mới phương thức tiếp cận dịch vụ tại cơ sở. Nhằm khắc phục rào cản công nghệ cho các nhóm đối tượng yếu thế, nhiều địa phương đã chủ động xây dựng các mô hình sáng tạo. Điển hình là việc thiết lập các “Trạm công dân số” đặt tại các không gian công cộng sầm uất (như siêu thị, trung tâm thương mại hoặc các điểm chốt an ninh cơ sở) được trang bị đầy đủ máy móc và có lực lượng chức năng bảo vệ, hướng dẫn 24/7. Đồng thời, mô hình các tổ công tác cộng đồng (phối hợp giữa cảnh sát khu vực, đoàn thanh niên, hội phụ nữ) đã trực tiếp đến từng hộ gia đình để hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện đăng ký căn cước và các thủ tục lưu động trực tuyến, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số.

Bốn là, sự dịch chuyển tư duy công vụ. Sự hiện diện của cơ chế giám sát số đã từng bước loại bỏ tư duy mệnh lệnh, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan hành chính. Cấp trên tập trung vào vai trò điều phối, hướng dẫn; trong khi trách nhiệm thực thi và giải quyết dứt điểm thuộc về công chức cấp cơ sở trực tiếp đối thoại với người dân. Những nỗ lực toàn diện này đã phản ánh rõ nét qua việc Liên Hợp Quốc đánh giá Chỉ số phát triển Chính phủ số của Việt Nam năm 2024 tăng mạnh 15 bậc, xếp vị trí 71 toàn cầu, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả mang tính khích lệ, thực tiễn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tiến tới Chính phủ số tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với những rào cản hệ thống và khoảng trống pháp lý sâu sắc:

Thứ nhất, sự thiếu hụt quy định đặc thù cho quản trị số phi biên giới. Các đạo luật hiện hành như Luật Tổ chức chính quyền địa phương vẫn mang nặng tư duy quản lý vật lý theo địa giới hành chính cố định. Khi dịch chuyển lên môi trường mạng, các dòng dữ liệu và thủ tục mang tính xuyên địa phương, tuy nhiên hệ thống pháp luật hành chính chưa có cơ chế phân định thẩm quyền rõ ràng cho các giao dịch số liên tỉnh, liên vùng, dẫn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm hoặc xuất hiện “khoảng trống quyền lực” khi xử lý các vấn đề phát sinh trên không gian mạng.

Thứ hai, vấn đề cục bộ thông tin và “độc quyền dữ liệu”. Mặc dù đã có Cổng Dịch vụ công quốc gia, song thực tế vẫn tồn tại tình trạng các bộ, ngành, địa phương xây dựng hạ tầng CNTT thiếu đồng bộ, không tương thích về tiêu chuẩn kỹ thuật. Tâm lý coi dữ liệu là tài nguyên riêng của ngành mình dẫn đến rào cản trong việc chia sẻ dữ liệu mở, làm giảm hiệu quả liên thông thủ tục và hạn chế tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình (mức độ 4), đặc biệt là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, sự suy thoái đạo đức công vụ và hiện tượng “kháng cự số”. Yếu tố con người vẫn là điểm nghẽn quyết định. Một bộ phận cán bộ, công chức do năng lực số yếu kém hoặc do thói quen trục lợi từ cơ chế xin - cho trực tiếp đã có tâm lý chống đối chuyển đổi số. Trên môi trường mạng, hiện tượng này biểu hiện tinh vi thông qua việc công chức lợi dụng các thay đổi nhỏ về biểu mẫu hoặc các lỗi kỹ thuật hệ thống để từ chối tiếp nhận, trả lại hồ sơ trực tuyến một cách tùy nghi, gây khó khăn, bức xúc cho công dân số.

Thứ tư, khoảng trống pháp lý về bảo mật dữ liệu và an toàn thông tin. Tiến trình số hóa diện rộng làm gia tăng nguy cơ tội phạm công nghệ cao xâm nhập, đánh cắp bí mật thông tin cá nhân của công dân. Trong khi đó, khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam hiện nay chủ yếu dừng lại ở các nghị định, chưa được luật hóa đồng bộ với các chế tài đủ sức răn đe, tạo ra rủi ro pháp lý lớn cho cả cơ quan quản lý và người dân.

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Qua nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và tổ chức quản trị số từ các quốc gia đi đầu trên thế giới đã cung cấp những bài học tham chiếu có giá trị học thuật cao cho Việt Nam.

Có thể kể đến mô hình của Singapore (Chiến lược Smart Nation). Singapore đã xây dựng hệ thống định danh quốc gia thống nhất mang tên Singpass, kết nối với ứng dụng LifeSG. Điểm đặc sắc về mặt tư duy pháp lý của Singapore là cấu trúc dịch vụ công theo “vòng đời sự kiện” của con người (từ sinh con, đi học, mua nhà, kết hôn đến khi nghỉ hưu). Người dân không cần quan tâm thủ tục đó do Bộ nào quản lý, hệ thống thông minh tự động điều hướng và xử lý liên thông sau giao diện, giảm tối đa các thao tác nhấp chuột của người dùng.

Hoặc mô hình của Estonia (Hệ thống X-Road). Quốc gia này nổi tiếng với nền tảng trao đổi dữ liệu phi tập trung X-Road, nơi công dân sử dụng một thẻ ID kỹ thuật số duy nhất cho mọi hoạt động từ bầu cử, nộp thuế đến y tế. Họ áp dụng nghiêm ngặt nguyên tắc pháp lý tối thượng là “Chỉ một lần” (Once-Only Principle). Theo đó, luật pháp quy định các cơ quan nhà nước không có quyền yêu cầu công dân cung cấp lại bất kỳ thông tin nào nếu thông tin đó đã có mặt trong cơ sở dữ liệu của một cơ quan nhà nước khác. Nghĩa vụ chia sẻ và kết nối dữ liệu là bắt buộc đối với mọi chủ thể công quyền.

Từ thực tiễn quốc tế nêu trên, Việt Nam cần rút ra và thể chế hóa 05 bài học kinh nghiệm cốt lõi: Định vị ứng dụng VNeID làm tài khoản định danh số duy nhất mang tính pháp lý bắt buộc, kết nối thông suốt với mọi loại hình dịch vụ công và giao dịch dân sự. Phá bỏ triệt để tư duy độc quyền dữ liệu bằng cách ban hành quy chế luật hóa nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các Bộ, ngành và địa phương qua Cổng dịch vụ công quốc gia, tối ưu hóa nguyên tắc một lần khai báo. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về an toàn thông tin và bảo vệ quyền riêng tư công dân trước khi tiến hành mở rộng các giao diện số hóa đại chúng. Đặt trải nghiệm của người dùng làm trung tâm khi thiết kế giao diện số, tối giản hóa quy trình theo hướng thân thiện, dễ tiếp cận tương tự các ứng dụng thương mại điện tử tư nhân. Triển khai các chiến dịch “bình dân học vụ số” sâu rộng để phổ cập kỹ năng công nghệ cho người dân nông thôn và các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ SỐ

Để tối ưu hóa hiệu năng của bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ số hiện đại, hệ thống giải pháp pháp lý cần được triển khai đồng bộ qua ba nhóm nội dung trọng tâm sau:

Hoàn thiện thể chế trách nhiệm và siết chặt cơ chế kiểm soát nội bộ kỹ thuật số: Cần tiến hành rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Cán bộ, công chức nhằm thể chế hóa quy trình, thẩm quyền và trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ thực thi công vụ trên môi trường điện tử theo nguyên tắc “rõ chức năng, rõ nhiệm vụ, rõ kết quả”. Khung pháp lý cần quy định cụ thể quy trình kỹ thuật số hóa hồ sơ, kiểm soát chặt chẽ nhật ký hệ thống (log file) để loại bỏ hoàn toàn tính tùy nghi, định kiến hoặc định kiến cá nhân trong quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ trực tuyến. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống chế tài nghiêm khắc đối với hành vi trì trệ hành chính, lạm dụng lỗi công nghệ để từ chối hoặc trả lại hồ sơ của công dân không có căn cứ pháp lý rõ ràng. Cơ chế kiểm soát nội bộ này nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược đề ra tại Nghị quyết số 76/2021/QH15 của Quốc hội và Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Tái cấu trúc quy trình TTHC và xây dựng hành lang kỹ thuật pháp lý cho dữ liệu liên thông. Trên cơ sở nền tảng quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2023, các cơ quan lập pháp cần kiên quyết rà soát và bãi bỏ các rào cản pháp lý lỗi thời liên quan đến nghĩa vụ xuất trình hồ sơ giấy hoặc đòi hỏi xác minh trực tiếp đối với các thông tin đã được số hóa thành công. Ban hành hệ thống các quy định kỹ thuật mang tính bắt buộc, chuẩn hóa về kiến trúc dữ liệu mở, định danh điện tử công và quy trình xử lý văn bản trực tuyến xuyên suốt giữa các cấp hành chính. Mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ, bảo đảm tính liên thông tuyệt đối giữa các cơ quan hành chính nhà nước, phá vỡ tư duy cục bộ ngành, hướng tới xây dựng một môi trường làm việc phi giấy tờ, minh bạch và tối ưu hóa tiện ích cho người dân, doanh nghiệp theo đúng tinh thần quyền con người, quyền công dân quy định tại Hiến pháp năm 2013.

Thể chế hóa tiêu chuẩn năng lực số gắn liền với cải cách chế độ công vụ Nhân tố con người giữ vai trò quyết định sự thành bại của thể chế. Do đó, cần thể chế hóa kỹ năng số thành một tiêu chí bắt buộc trong khung năng lực cốt lõi khi thực hiện quy trình tuyển dụng, đánh giá, phân loại và đề bạt cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy chính quyền địa phương hai cấp. Chương trình đào tạo công chức cần được thiết kế tích hợp song song giữa năng lực kỹ thuật số và đạo đức công vụ nhằm xây dựng đội ngũ nhân sự vừa làm chủ công nghệ vừa vững vàng về bản lĩnh chính trị. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế lập pháp cho phép gắn trực tiếp kết quả đánh giá mức độ hài lòng của công dân trên ứng dụng VNeID vào quy trình phân loại lao động hàng năm. Đây sẽ là căn cứ pháp lý khách quan, vững chắc để thực hiện tinh giản biên chế những nhân sự không đủ năng lực và suy thoái đạo đức. Song song với đó, cần thiết lập cơ chế bảo mật dữ liệu đa tầng độc lập để bảo vệ quyền riêng tư công dân, kết hợp với các chương trình phổ cập kỹ năng an toàn thông tin toàn dân nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý từ tội phạm công nghệ cao.

Có thể khẳng định, việc xây dựng Chính phủ số trong tổ chức chính quyền địa phương hai cấp tại Việt Nam không chỉ là một cuộc cách mạng về mặt công nghệ, mà cốt lõi là sự đột phá mạnh mẽ về mặt cải cách thể chế pháp lý. Việc thiết lập một hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch và nghiêm minh sẽ giúp mô hình chính quyền hai cấp phát huy tối đa hiệu năng quản trị, giải phóng các nguồn lực xã hội, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng một nền hành chính hiện đại, kiến tạo phát triển, phụng sự Nhân dân, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.Mỗi một cán bộ số phải thực sự chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ nhất; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Công an Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ nhất; Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 -2030, Nghị quyết Trung ương 2, 3 (khóa XIV), các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị về tinh thần chuyển đổi số quốc gia phát triển kinh tế tư nhân.

Bình luận (0)

Lên đầu trang