(CATP) Cách Vũng Tàu 97 hải lý, Côn Đảo sừng sững trấn giữ vùng biển Đông Nam của Tổ quốc với những thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp của biển, của rừng. Trong những năm kháng chiến, Côn Đảo là một nhà tù lớn, nổi tiếng là "địa ngục trần gian", nơi giam giữ các chiến sĩ cách mạng. Cũng chính nơi đây, những người tù kiên trung đã biến các trại giam thành trận tuyến, giáo dục và giác ngộ cho những tù nhân khác về lòng yêu nước và cách mạng. Trước những đòn tra tấn dã man của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các chiến sĩ vẫn giữ vững ý chí, không khuất phục. Ngay trong xiềng xích, các chiến sĩ cách mạng tổ chức các lớp học chính trị, học văn hóa, ngoại ngữ và nghiên cứu lý luận Mác - Lênin. Từ đó, các chi bộ Đảng được thành lập bí mật, duy trì sự lãnh đạo, đấu tranh.
Ngày 28/11/1861, thực dân Pháp đã đánh chiếm Côn Đảo, thiết lập nhà tù đầu tiên ở xứ Đông Dương (01/02/1862). Ngày 31/01/1873, Thống đốc Nam Kỳ Dupré ra Nghị định ban hành quy chế riêng cho Đề lao Côn Đảo. Sau nhiều năm thi hành bổ sung và sửa đổi, bản quy chế hoàn chỉnh nhất, gồm 20 chương, 109 điều được ban hành vào ngày 17/5/1916. Bản quy chế này được áp dụng cho đến ngày cáo chung của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương.
Số lượng tù nhân tăng cấp số nhân
Trong hơn nửa thế kỷ đầu, nhà tù Côn Đảo chỉ có một trại giam (Bagne N0I). Với nguồn tài chính bổ sung từ ngân sách Liên Bang (Đông Dương), Banh II được khởi công năm 1917 và đưa vào sử dụng năm 1928. Banh III được sử dụng năm 1939. Banh phụ của Banh III cùng 2 dãy Chuồng Cọp được sử dụng từ 1944.

Di tích nhà tù Côn Đảo ngày nay được nhiều du khách ghé thăm
Tháng 3/1955, thực dân Pháp bàn giao nhà tù này cho chính quyền Sài Gòn. Mỹ ngụy đã tăng quy mô từ 4 trại lên 8 trại. Trại V được xây dựng năm 1962. Trại VI, Trại VII và Trại VIII được xây dựng năm 1968, hoàn thành cơ bản cuối năm 1970. Ba trại giam này được ngân sách MACCORD (chương trình viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ) chi tiền, chuyên gia xây cất nhà tù của Mỹ thiết kế, hãng thầu Mỹ RMK- BRJ xây cất. Trại IX, Trại X cũng đã được đổ móng, đúc cột rồi bỏ dở khi hãng RMK-BRJ rút khỏi Việt Nam cuối năm 1972.
Trong 50 năm đầu, con số tù nhân ở nhà tù Côn Đảo biến động ở mức trên dưới 1.000 người. Số lượng tù nhân vượt quá con số 2.000 vào năm 1926. Theo báo cáo ngày 31/12/1927 của Thanh tra thuộc địa, nhà tù Côn Đảo có 2.038 tù nhân.
Số lượng tù nhân Côn Đảo tăng lên hơn 5.000 sau cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ (tháng 11/1940). Báo cáo ngày 15/01/1943 của nhà tù cho biết, nhân số hiện hữu ở nhà tù còn 4.403 người. Tháng 5/1945, số tù nhân còn lại là 3.308, gần 2.000 người đã chết vì bị đày ải trong những năm ấy.
Tháng 9/1945, hơn 2.000 tù chính trị đã nổi dậy giành quyền làm chủ Côn Đảo và trở về tham gia kháng chiến.
Ngày 18/4/1946, thực dân Pháp tái chiếm Côn Đảo, lập lại nhà tù, đày 300 tù nhân kháng chiến ra Côn Đảo vào ngày 27/5/1946. Số lượng tù nhân tăng lên 1.500 vào năm 1948, trong đó có 69 tù binh (tội phạm chiến tranh) Nhật Bản. Báo cáo ngày 31/12/1952 của Giám đốc quần đảo và nhà tù cho biết, Côn Đảo hiện giam giữ 548 tù binh và 1.739 tù án. Tháng 7/1954, số lượng tù nhân là 2.252 người, gồm 593 tù binh và 1.659 tù án. Theo Hiệp nghị Giơnevơ, thực dân Pháp đã trao trả cho Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa 4 đợt, tổng số 593 tù binh và 1.150 tù án. Côn Đảo còn lại 603 tù nhân án tư pháp (thường phạm).

Các phân trại tại nhà tù Côn Đảo
Tháng 3/1955, thực dân Pháp bàn giao nhà tù Côn Đảo cho chính quyền Sài Gòn, khi ấy còn giam giữ 674 tù nhân. Năm 1957, chính quyền Sài Gòn lưu đày ra Côn Đảo 10 chuyến, tổng số 3.080 người, trong đó có 100 phụ nữ, 2 cháu bé chưa đầy 1 tuổi, tất cả đều là tù chính trị câu lưu. Số lượng tù nhân Côn Đảo tăng đến mức 8.000 vào những năm 1967 - 1969. Báo cáo ngày 15/4/1970 của Trung tâm Cải huấn Côn Sơn cho biết, nhân số là 9.448 người, trong đó có 38 án tử hình. Theo Phiếu trình số 878/ĐB/E225 ngày 02/6/1972, Côn Đảo có 8.441 tù nhân. Trong 2 năm 1973 - 1974, đã có 4.075 tù chính trị Côn Đảo được trao trả theo Hiệp định Paris. Số lượng tù nhân ở nhà lao này tiếp tục biến động ở mức 8.000 người. Ngày 01/5/1975, tù chính trị Côn Đảo đã nổi dậy tự giải phóng. Khi ấy Côn Đảo còn 7.448 tù nhân, trong đó 4.234 người là tù chính trị (494 phụ nữ), 324 là thường phạm, quân phạm, số còn lại chưa phân loại. Tháng 5/1975, hơn 4.000 tù chính trị đã được đón về quê hương. Theo yêu cầu của Ủy ban quân quản, 153 người đã tình nguyện ở lại, một số người còn phục vụ tại Côn Đảo cho đến hôm nay.
Mặt trận đấu tranh của những người cách mạng
Với hệ thống nhà tù quy mô, kiên cố trên một hòn đảo giữa bốn bề mênh mông biển cả, bọn thực dân xem Côn Đảo là nơi lý tưởng để đày ải tù nhân. Đòn roi, còng xiềng và chế độ kỷ luật nghiệt ngã có khả năng bóp chết mọi hành vi phản kháng. Song, trái với toan tính của đế quốc và tay sai, tù chính trị Côn Đảo đã không ngừng đấu tranh chống chế độ lao tù hà khắc. Những người cộng sản Việt Nam đã biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, đào tạo, rèn luyện đội ngũ, cải biến chế độ lao tù và tự giải phóng mình khi thời cơ đến.
Đấu tranh để tồn tại và đấu tranh chống chế độ thực dân, vì độc lập, tự do của dân tộc là mục tiêu cao nhất của tù chính trị. Lớp nghĩa quân bị đày ra Côn Đảo trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX tiếp tục con đường vũ trang trong tù. Nhiều cuộc nổi dậy phá ngục, chiếm đảo, cướp tàu vượt ngục bị đàn áp dã man, nhưng qua đó, truyền thống yêu nước, chống thực dân một lần nữa được tô thắm thêm trên một chiến trường hoàn toàn mới mẻ: Nhà tù đế quốc.

Phía trong phòng giam tại nhà tù Côn Đảo
Lớp sĩ phu yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản bị đày ra Côn Đảo đầu thế kỷ XX đã suy ngẫm về thất bại của các phong trào yêu nước và trăn trở về con đường giải phóng dân tộc. Trong số những người có tư tưởng tiên tiến bị đày ải ra đây có cụ Tú Kiên, tức Nguyễn Đình Kiên (1882 - 1941, hiệu là Hy Cao), là một nhà hoạt động cách mạng yêu nước nổi tiếng đầu thế kỷ XX tại Nghệ An. Ông là sáng lập viên Hội Phục Việt (sau là Tân Việt), tham gia phong trào Đông Du, Duy Tân. Trong thời gian bị thực dân Pháp đày ra nhà tù Côn Đảo, Hy Cao là đại diện đã lập ra "Hội Phục Việt", vượt ngục về xây dựng tổ chức, khôi phục phong trào. Hội Phục Việt được cải tổ nhiều lần thành Hội Hưng Nam, Tân Việt Cách mạng Đảng, và sau thành Đông Dương cộng sản liên đoàn, một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1930, những người cộng sản đã mở những trang mới trong lịch sử đấu tranh tại nhà tù này. Từ khi có tù chính trị cộng sản lãnh đạo, cuộc đấu tranh nhằm cải biến chế độ lao tù đã diễn ra hằng ngày, hằng giờ. Nhờ đó mà củng cố được tổ chức, rèn luyện lực lượng, nắm bắt thời cơ, phối hợp được với cao trào Mặt trận Dân chủ (1936) ở trong nước và quốc tế, giải thoát hàng ngàn tù chính trị, bổ sung nguồn cán bộ lãnh đạo quan trọng cho Đảng.
Bằng sự nhạy cảm đặc biệt, những người tù chính trị Côn Đảo đã nổi dậy xóa bỏ chế độ ngục tù của bọn thực dân và tay sai khi thời cơ cách mạng đến. Cuộc nổi dậy giành chính quyền tại Côn Đảo (tháng 8/1945) góp phần vào thắng lợi trọn vẹn của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Thế hệ tù nhân kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) đã tổ chức tù nhân thành một đạo quân kháng chiến giữa sào huyệt kẻ thù; liên tục công kích địch, đấu tranh từ thấp đến cao, đẩy kẻ địch vào thế bị động đối phó và tiến tới sử dụng bạo lực cách mạng, tạo thời cơ tự giải phóng cho mình.
Thời Mỹ - Ngụy (1954 - 1975), người tù chính trị phải đối đầu với một bộ máy bạo lực không giới hạn với những thủ đoạn tinh vi, thâm độc và tư tưởng chống cộng cực đoan. Khác hẳn với tất cả mọi thời kỳ trước đó, tù chính trị Côn Đảo thời Mỹ -Ngụy đã đặt nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ khí tiết, bảo vệ lý tưởng cộng sản cao hơn bảo vệ tính mạng mình. Cuộc đấu tranh mang đậm sắc thái chính trị - tư tưởng ấy đã diễn ra từng phút, từng giờ, hết sức quyết liệt trong suốt hơn 20 năm chống Mỹ. Cuộc nổi dậy tự giải phóng đêm 30/4, rạng ngày 01/5/1975 của tù chính trị Côn Đảo đã vĩnh viễn xóa bỏ "địa ngục trần gian" tồn tại 113 năm trên hòn đảo này.
(Còn tiếp...)
NGUYỄN ĐÌNH - ĐỖ MẠNH - HÀ CHÂU