Từ lời dặn của Bác đến đạo lý của một dân tộc biết ơn

Thứ Năm, 15/10/2026 10:07

|

(CATP) Gần tám mươi năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đặt nền móng cho đạo lý chăm lo cho những người cầm súng và gia đình họ, đưa đạo lý này trở thành chính sách của Nhà nước, thành phong trào của toàn dân và thành tình cảm tự nhiên của mỗi người Việt Nam.

Điều làm nên chiều sâu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác Thương binh, Liệt sĩ là cách Người xác định bản chất của việc đền ơn đáp nghĩa, một truyền thống đạo lý nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam, thể hiện trách nhiệm và tình cảm đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết các đồng chí Thương binh ở Trường Thương binh hỏng mắt, ngày 11/02/1956 (Ảnh tư liệu)

TỪ CHIẾC ÁO LEN GIỮA MÙA ĐÔNG NĂM 1946

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với chiến tranh. Là người đứng đầu đất nước, Hồ Chủ tịch sớm nhận ra rằng một cuộc kháng chiến lâu dài không thể thiếu sự chăm lo cho những người cầm súng và gia đình họ. Ngày 02/10/1945, Bác đến Nhà thờ Lớn dự lễ cầu hồn cho các chiến sĩ hy sinh ở miền Nam. Tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 20/11/1945, Người đề nghị ra sắc lệnh truy tặng 5 Liệt sĩ ngã xuống ở Cái Răng, Cần Thơ tám ngày trước đó.

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa, rồi lan ra Hà Nội và nhiều địa phương, sau đổi tên thành Hội giúp binh sĩ bị thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch danh dự của Tổng Hội. Chiều 28/5/1946, Người đến dự buổi nói chuyện tại Nhà hát Lớn Hà Nội, nơi Tổng Hội kêu gọi đồng bào hăng hái giúp đỡ chiến sĩ bị thương tùy theo điều kiện từng gia đình.

Cũng tại Nhà hát Lớn, chiều 17/11/1946, lễ xung phong “Mùa đông binh sĩ” được tổ chức với sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ. Ngay tại buổi lễ, Người cởi chiếc áo len đang mặc để tặng binh sĩ. Theo sáng kiến của Người, Ủy ban vận động phát động phong trào may áo trấn thủ cho chiến sĩ trong mùa đông giá rét. Hành động ấy giản dị nhưng mang sức nặng của một lời hiệu triệu: người đứng đầu Nhà nước làm trước, Nhân dân làm theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viếng Nghĩa trang Liệt sỹ - Ảnh: Tư liệu

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19/12/1946, số người bị thương và hy sinh tăng nhanh, đời sống chiến sĩ bị thương và gia đình tử sĩ gặp nhiều thiếu thốn. Ngày 16/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/ SL quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ - văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí của công tác Thương binh, Liệt sĩ. Ngày 03/10/1947, Người ra Sắc lệnh số 101 thành lập Sở, Ty thương binh, cựu binh ở khu, tỉnh. Chỉ riêng giai đoạn 1947 - 1954, Nhà nước đã ban hành 24 văn bản dưới hình thức sắc lệnh, nghị định, thông tư về chính sách người có công.

Song song với chính sách là một ngày dành riêng để tri ân. Tháng 6/1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc chọn một ngày làm Ngày Thương binh, đại biểu Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc, Cục Chính trị Quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin tuyên truyền và một số địa phương họp tại Thái Nguyên, thống nhất chọn ngày 27/7.

Ngày 17/7/1947, Bác viết thư gửi Ban Thường trực Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh viếng Nghĩa trang Liệt sĩ (Ảnh tư liệu) quốc”. Trong thư, Người khẳng định thương binh là những người đã hy sinh gia đình, xương máu để bảo vệ Tổ quốc, đồng bào, vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ họ; rồi xung phong gửi một chiếc áo lót lụa do chị em phụ nữ biếu, một tháng lương, một bữa ăn của Người và nhân viên Phủ Chủ tịch, tổng cộng 1.127 đồng.

Ngày 27/7/1947, dưới gốc đa xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, bức thư được công bố; tấm bia dựng sau này ghi lại rằng 300 cán bộ, bộ đội và Nhân dân địa phương đã có mặt, chứng kiến sự ra đời của Ngày Thương binh, Liệt sĩ. Từ tháng 7/1955, ngày này được đổi tên thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ.

ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA LÀ TRÁCH NHIỆM, LÀ ĐẠO LÝ

Điều làm nên chiều sâu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác Thương binh, Liệt sĩ là cách Người xác định bản chất của việc đền ơn. Theo Người, đó là sự trân trọng, biết ơn những người có công với độc lập, tự do của Tổ quốc, chứ không phải sự gia ơn hay làm phúc. Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, của thế hệ đi sau với thế hệ đi trước. Người cũng sớm nhìn thấy đây là việc lâu dài, không thể làm theo phong trào nhất thời. Để tránh nhiệt tình thái quá hay áp dụng máy móc khi phát động phong trào nhân ngày 27/7, Người còn căn dặn chi tiết cách làm cụ thể tới từng địa phương, từng cán bộ.

Khu di tích 27/7 tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Với chính người Thương binh, Bác không chỉ an ủi mà còn mong họ phát huy truyền thống của người quân nhân Cách mạng, hòa mình với Nhân dân, tránh tâm lý công thần, không bi quan chán nản, cố gắng tăng gia sản xuất để dần tự lực cánh sinh; phấn đấu trở thành người công dân kiểu mẫu ở hậu phương như đã từng là chiến sĩ kiểu mẫu ngoài mặt trận, theo phương châm “tàn nhưng không phế”. Sự tôn trọng ấy khác hẳn lòng thương hại. Người coi Thương binh là những công dân còn nhiều đóng góp, chứ không phải đối tượng chỉ nhận giúp đỡ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc chăm sóc thương binh, gia đình Liệt sĩ gắn liền với một vấn đề lớn hơn: xây dựng chính sách hậu phương quân đội. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng xây dựng hậu phương, trong đó có hậu phương quân đội, coi đó là nhân tố quyết định thành bại của sự nghiệp Cách mạng và xây dựng Quân đội Nhân dân. Người yêu cầu xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện. Người cũng dặn chính sách với người lính và gia đình họ là một bộ phận làm nên sức chiến đấu, chứ không phải việc phụ. Chính sách hậu phương quân đội, theo cách hiểu từ tư tưởng của Người, trải rộng từ ưu đãi thương binh, gia đình Liệt sĩ, gia đình quân nhân, gia đình có công đến chế độ cho thanh niên xung phong, bộ đội xuất ngũ trở về.

Điều đặc sắc là Người không để việc chăm lo hậu phương chỉ nằm trên văn bản. Người đề xuất Hội Liên hiệp Phụ nữ thành lập “Hội mẹ chiến sĩ”, “Hội ủng hộ thương binh”, với hoạt động thiết thực, thắt chặt tình quân dân. Với thiếu nhi, Người gợi ý lập những “Đội Trần Quốc Toản” giúp đỡ gia đình bộ đội, gia đình Thương binh, Liệt sĩ. Mỗi tầng lớp, mỗi lứa tuổi đều có việc để làm, hậu phương quân đội vì thế trở thành công việc của cả cộng đồng.

Tình cảm của Người còn hiện ra trong những việc riêng tư nhất. Trong 22 năm, từ 1947 đến 1969, Người 14 lần gửi quà, tiền nhân Ngày Thương binh - Liệt sĩ vào Quỹ thương binh toàn quốc cho các trại an dưỡng. Ngày 29/01/1957, Bác gặp đại biểu quân đội, thương binh, quân nhân phục viên tại Phủ Chủ tịch. Tấm ảnh lưu niệm buổi gặp ấy đến nay vẫn thường được dùng để minh họa cho chính sách hậu phương quân đội - như một lời nhắc rằng người lính khi rời quân ngũ vẫn được đất nước ghi nhận.

LỜI DẶN CUỐI CÙNG VÀ HÀNH TRÌNH HÔM NAY

Tháng 5/1968, khi sức khỏe đã yếu, Bác đọc lại bản thảo Di chúc và viết bổ sung sáu trang viết tay, trong đó có đoạn về Thương binh, Liệt sĩ. Người dặn Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách để những người đã hy sinh một phần xương máu có nơi ăn chốn ở yên ổn, được học nghề phù hợp để dần tự lực cánh sinh. Với các Liệt sĩ, mỗi địa phương cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước. Với cha mẹ, vợ con thương binh, Liệt sĩ thiếu sức lao động và túng thiếu, chính quyền địa phương phải giúp họ có việc làm ăn thích hợp, không để họ đói rét.

Ba lời dặn ấy - cho người còn sống, cho người đã khuất và cho gia đình họ - đến nay vẫn là bộ khung của chính sách người có công. Hiện cả nước đã xác nhận trên 9,2 triệu người có công, trong đó trên 1,2 triệu Liệt sĩ, gần 140.000 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Những con số đó cho thấy quy mô của món nợ ân tình mà đất nước đang tiếp tục trả.

Cuộc tìm kiếm ở công viên Lê Thị Riêng là một phần của món nợ ấy. Từ chiếc áo len tặng thương binh ở Nhà hát Lớn năm 1946, chiếc áo lụa và 1.127 đồng gửi thương binh năm 1947 của Hồ Chủ tịch, đến những nhành hoa trắng trên đường Trường Sơn sáng 14/10/2026, sợi chỉ xuyên suốt vẫn là một quan niệm Bác đã xác lập: đền ơn đáp nghĩa không phải lòng thương hại, càng không phải sự ban ơn, mà là trách nhiệm của người được sống trong hòa bình với những người đã ngã xuống để có nền hòa bình ấy.

Bình luận (0)

Lên đầu trang