Một tuần sau đó, trong "Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ" đăng trên báo Cứu quốc, số 77, ngày 29/10/1945, Hồ Chủ tịch viết: "Đồng bào trong Nam, trong một tháng nay, đã tỏ rõ tinh thần vững chắc, hùng dũng, đáng làm gương cho lịch sử thế giới. Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hy sinh chiến đấu". Và ngày hôm sau, 30/10/1945, trong "Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ", Bác Hồ viết: "Trong công cuộc chống xâm lăng này, các bạn đã là bức Vạn Lý Trường Thành vững chắc. Các bạn phải thống nhất mặt trận thanh niên, đoàn kết, nêu cao tinh thần tin tưởng ở sức mạnh của dân tộc. Những gương hy sinh anh dũng chiến đấu của các bạn đã sống dậy khắp nơi. Những chiến thắng oanh liệt của các bạn đã làm cho toàn thể đồng bào thêm kiên quyết".

Báo Cứu quốc ra ngày 29/9/1945 có đăng bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lời hiệu triệu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi toàn thể đồng bào chống lại cuộc xâm lăng của giặc Pháp ở Nam Bộ (ảnh minh họa)
"Cử chỉ phi thường của người chiến sĩ tự tẩm xăng vào mình để đốt cháy một kho dầu của giặc Pháp", và "tấm gương anh dũng chiến đấu của thanh niên Nam Bộ", được Chủ tịch Hồ Chí Minh vinh danh, chính là "Em bé tẩm dầu", "Ngọn đuốc sống" Lê Văn Tám.
Có những con người làm nên lịch sử
Có những cái chết hóa thành bất tử
Báo Cứu quốc ngày 19/10/1945 còn đăng một bài thơ sáng rực "Ngọn lửa thiêng" đã đốt cháy kho dầu Thị Nghè. Nội dung như sau:
Lửa thiêng
Kính tặng hương hồn một chiến sĩ Việt Nam tự thiêu mình để đốt một vị trí quân địch (tin Nam Bộ)
Lấy nhựa sống tẩm vào da chiến đấu
Ngọn quang minh bùng cháy kiếp thanh xuân
Chỉ non sông thề với cả dân quân
Đây là lúc trai Việt Nam phải chết
Thân tráng sĩ một thi cùng lửa thép
Để bảo tồn công lý và tự do
Để nêu cao danh nước tổ thiên thu
Để chiếu sáng gương đấu tranh vạn kiếp
Để giải tỏ muôn đời bầu nhiệt huyết
Của Việt Nam kiên quyết diệt quân thù
Người ra đi miệng vẫn thản nhiên ca
Bởi kiếp sống không thể qua một thác
Đứng trong lửa căm hờn nhìn giặc Pháp
Hô muôn dân quyết tiến tới vinh quang
Giữ áo cơm quét sạch giống sài lang
Đưa nòi giống tiến lên đường giải phóng
Người không chết bởi chính người đã sống
Như lửa hồng bất tuyệt ở nhân gian
Thân anh hùng tuy lẫn với tro than
Gương cứu quốc nghìn năm còn rạng rỡ
Đất Sài Gòn sáng trưng màu lửa đỏ
Là sáng trưng hoàn vũ ánh hào quang
Của dân quân cách mạng dưới sao vàng
Của chiến sĩ Việt Nam ngàn vạn thuở
Rồi muôn kiếp về sau trong lịch sử
Lớp thế nhân còn nhắc đến tên người
Để cúi đầu nhận lấy tấm gương soi.
ĐÔNG HÀ
Hai ngày sau khi cuộc họp báo của Bác Hồ tại Thủ đô Hà Nội, ngày 25/10/1945 báo Cờ giải phóng đã đăng bài thơ tràn đầy cảm xúc của nhà văn, nhà báo Thép Mới (Gió Hồng). Bài thơ này cũng đã được đăng trên nhiều tờ báo khác ở các địa phương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và được lan truyền trong cộng đồng người Việt tại Lào, Thái Lan.
Lửa bất diệt
(Gió Hồng)
Buổi trưa ấy Sài Gòn rung ý hận
Nghiến răng nghe rầm rập bước chân thù
Anh đứng khoanh tay lòng nặng đợi chờ
Giờ cứu nước, giờ đây, giờ cứu nước
Anh nhìn xuống áo quần anh tắm ướt
Mùi dầu xăng ngây ngất chí hiên ngang
Ngoài miệt xa, phấp phới ánh sao vàng
Từ loạt súng từ Cầu Ông vọng lại
Mỗi tiếng súng là mỗi người trẻ tuổi
Cũng như anh, ngã xuống, cũng như anh
Lòng lâng lâng dâng nước mảnh hồn xanh
Anh rạo rực, trong anh, sao nóng quá
Anh châm lửa, người anh mang cánh lửa
Anh băng băng xông vào giữa kho dầu
Ánh lửa hồng mỗi lúc một dâng cao
Bay loang loáng khắp kho dầu loang mãi...
Trong các tác phẩm thơ ca, âm nhạc, hội họa và sân khấu được sáng tác sớm nhất từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp để tôn vinh "Em bé tẩm dầu", "Ngọn đuốc sống", đã xuất hiện tại nhiều địa phương như: Nhạc của Lê Bình (1946), kịch "Em bé tẩm dầu", "Em bé cắm cờ" của Nguyễn Ánh Ngọc (1947), tranh của Lê Vinh... Trong đó, không thể không nhắc đến bài "Em bé tẩm dầu" - nhạc và lời của Lê Bình. Bản nhạc này được nhiều người biết, kể cả tôi, trong những năm tháng không thể nào quên công tác tại Ban Quân báo Khu 8 ở chiến khu Đồng Tháp Mười. Tôi xin chép ra đây để cống hiến bạn đọc:
Em bé tẩm dầu
(Nhạc và lời của Lê Bình)
Cuộc kháng chiến Việt Nam có biết bao nhi đồng đã
hiến thân liều mình vì nước.
Gương Em bé tẩm dầu đáng để người đời soi chung.
Đời em trắng như bông đầy hoa ngát mùi hương thơm.
Nhưng em nặng tình yêu nước, dù chết quyết không sờn.
Em căm hờn loài lang sói đang manh tâm cướp nước Việt Nam.
Em căm hờn loài phản quốc liếm gót quân tham tàn.
Em bé tẩm dầu lao vào kho xăng.
Lửa bốc bùng lên lan cháy muôn thùng xăng.
Hình hài em hóa tan trong lửa khói thiêu đốt quân thù chung.
Em bé chết rồi người đời xót thương.
Hình ảnh em khắc ghi vào tâm trí của bao người Việt Nam.
Đời còn luôn thương xót nhưng người em đâu còn.
Đời là cây đuốc sống rạng rỡ Việt Nam.

Lê Văn Tám (tranh của Lê Vinh)
Trong lĩnh vực hội họa, tranh minh họa về "Em bé tẩm dầu", "Em bé đuốc sống" được in rất nhiều trong sách báo kháng chiến. Đặc biệt, bức tranh nghệ thuật "Đuốc sống" do họa sĩ Lê Vinh sáng tác, đã chinh phục được tình cảm của rất nhiều người xem bởi tính tư tưởng và giá trị biểu cảm của nó.
Có thể nói, việc nêu cao tấm gương chiến đấu quên mình đã hy sinh và xả thân vì nước của "Em bé tẩm dầu" là phong trào hành động Cách mạng của quần chúng, đã được Xứ đoàn Thanh niên cứu quốc Nam Bộ và các Tỉnh đoàn, Huyện đoàn Thanh niên cứu quốc ở các địa phương dốc sức tổ chức thực hiện với nhiệt tình Cách mạng rất cao.
Chúng ta hãy nghe đồng chí Nguyễn Ánh Ngọc - Ủy viên Xứ đoàn Thanh niên cứu quốc Nam Bộ, bồi hồi kể lại chuyện xưa: "Để làm tròn nhiệm vụ của mình tại tỉnh Rạch Giá, tôi đã phải thường xuyên tổ chức ca hát, viết kịch và diễn kịch. Nhiều vở kịch về Lê Văn Tám như "Em bé tẩm dầu", "Em bé cắm cờ"... sau khi viết xong, tôi gửi cho đồng chí Phan Trọng Tuệ - Tư lệnh phó kiêm Trưởng phòng Chính trị Quân khu 9 duyệt".
(CATP) Chỉ sau 28 ngày đêm được hít thở không khí độc lập tự do sau khi giành được chính quyền trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Nhân dân thành phố Sài Gòn và đồng bào Nam Bộ đã bị bọn thực dân Pháp, dựa vào sự đồng lõa và tiếp tay nối giáo của quân Anh, đã dã tâm gây ra cuộc chiến tranh xâm lược đất nước ta lần thứ hai.
TRẦN HỮU PHƯỚC -(Nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng các Khu di tích lịch sử Cách mạng miền Nam)