Mắt xích sinh tử
Tháng 4/1975, sau sự sụp đổ của vành đai Xuân Lộc, địch co cụm về Sài Gòn trong thế đường cùng. Cầu Rạch Chiếc - nằm trên xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa, cách Dinh Độc Lập chỉ hơn 10km - trở thành mắt xích sinh tử. Đây là cây cầu cực kỳ quan trọng án ngữ cửa ngõ phía Đông, nơi địch bố phòng cẩn mật với hơn 2.000 quân, bao gồm biệt động quân, thủy quân lục chiến và bảo an.
Nhận rõ tầm quan trọng chiến lược, địch sẵn sàng phá sập cầu bằng hai khối bom cực lớn để ngăn chặn xe tăng ta. Với Quân Giải phóng, chiếm và giữ nguyên vẹn cầu Rạch Chiếc không chỉ là khai thông mạch máu giao thông, mà còn là ngăn chặn tàn quân địch từ hướng Đông dồn về thành phố Sài Gòn. Nhiệm vụ tối khẩn ấy được trao cho Lữ đoàn 316 đặc công biệt động - những "Yết Kiêu" tinh nhuệ nhất.
Lữ đoàn 316 là Lữ đoàn đặc công - biệt động được Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập vào đầu năm 1974, nhằm gấp rút chuẩn bị cho những trận đánh có tính chất quyết định. Cấp trên giao cho Lữ đoàn 316 đánh chiếm, bảo vệ những cây cầu huyết mạch xung quanh thành phố để mở đường cho các cánh Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn, trong đó có cầu Rạch Chiếc. Chiếm giữ được cây cầu này sẽ tạo thuận lợi cho ta mở cửa áp sát thủ phủ của địch; đồng thời chọc thủng khu vực phòng thủ vòng ngoài của chúng.

Cầu Rạch Chiếc trước trận đánh lịch sử 1975
Để chuẩn bị cho trận đánh quyết định, các chiến sĩ Tiểu đoàn 81, Z22 và Z23 đã có những ngày chuẩn bị âm thầm nhưng đầy gian khổ. Muốn tiếp cận mục tiêu, chiến sĩ ta phải hành quân bí mật, không còn cách nào khác ngoài việc lặn ngụp dưới dòng nước. Các chiến sĩ ngậm ống thở, đội những lùm cỏ, lục bình để bơi dưới hệ thống kênh rạch chằng chịt, bãi lầy đầy dừa nước của vùng Thủ Đức cùng với vũ khí rất nặng: súng AK, hộp tiếp đạn, 16 quả thủ pháo, 2 quả lựu đạn; có những đồng chí còn mang theo B40, B41 cùng với 10 trái đạn. Để vào tới vị trí, các chiến sĩ phải lội qua nhiều đồng bưng (vùng đất trũng, thấp, thường xuyên bị ngập nước), bơi qua nhiều rạch nước sâu, lúc triều cường nước chảy xiết, chịu đựng muỗi mòng và sự kiểm soát gắt gao của đèn pha, tàu chiến địch. Mặc dù vậy, tất cả vẫn đến đúng vị trí ém quân.
Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) - nguyên Chính ủy Lữ đoàn 316 - nhớ lại áp lực nghẹt thở lúc bấy giờ. Sau khi nhận lệnh từ cấp trên, chỉ có vỏn vẹn 2 ngày để trinh sát mục tiêu mới khi quân đoàn chủ lực của ta đang tiến công thần tốc. Tâm thế của những người lính đặc công lúc ấy là một sự tĩnh lặng đến lạ lùng - sự tĩnh lặng của những người đã sẵn sàng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Họ không chỉ đánh để thắng, mà đánh để giữ lại một huyết mạch cho dân tộc. Nửa đêm 26/4/1975, đơn vị đã tiếp cận cầu Rạch Chiếc
Đơn vị chủ công Z23 chỉ với hơn 70 tay súng, được trang bị vũ khí, như: tiểu liên AK và súng B40, B41, thủ pháo, lựu đạn, bởi vậy sau khi nổ súng đánh chiếm, đơn vị phải đánh giằng co với địch, bảo vệ cây cầu trong suốt những ngày sau đó. Các chiến sĩ đặc công anh dũng bám trụ bảo vệ cầu, ngâm mình trong bùn nước, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. Đến hừng sáng ngày 30/4, khi các đơn vị của ta vượt qua cầu tiến vào Sài Gòn, Lữ đoàn 316 mới hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ cầu Rạch Chiếc.

Các chiến sĩ của Z23 trong trận đánh cầu Rạch Chiếc 1975
Tiếng súng lệnh giữa lòng sông
Trận chiến thực sự bùng nổ vào lúc 3 giờ sáng ngày 27/4/1975. Đặc công nước Nguyễn Đức Thọ (đơn vị Z23) khai hỏa khẩu B40, bắn sập tháp canh của địch. Đó là phát súng lệnh rung chuyển cả một vùng cửa ngõ. Ngay lập tức, gần 200 chiến sĩ từ dưới lòng sông, từ những lùm dừa nước như những mũi tên lao lên, dùng thủ pháo, lựu đạn tấn công dồn dập vào các lô cốt, công sự.
Quân địch bị bất ngờ, hoảng loạn nhưng ngay sau đó chúng kịp chống trả. Hai bên giao tranh rất dữ dội. Sau một tiếng đồng hồ, quân địch yếu thế, tháo chạy. Quân ta đã chiếm hoàn toàn cầu Rạch Chiếc và quan trọng nhất là kịp thời tháo gỡ hai khối bom gài sẵn đầu cầu. Các chiến sĩ đặc công bám chặt vị trí, giữ cầu. Trên bầu trời, máy bay địch bắt đầu xuất hiện. Đối phương với ưu thế về hỏa lực cực mạnh từ Nhơn Trạch, Sóng Thần phối hợp cùng trực thăng và tàu chiến đã phản kích điên cuồng, ném bom phá các cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc, Sài Gòn - nhằm cắt tuyến cửa ngõ vào nội thành, ngăn bước tiến của các quân đoàn chủ lực cùng xe tăng của quân Giải phóng đang trùng trùng tiến về. Pháo phòng không của ta lập tức nhả đạn, đón bắn máy bay địch, quyết không để chúng thả bom trúng mục tiêu. Tiếng nổ rung chuyển cả vùng trời đất. Xen lẫn trong hỗn loạn, có cả những chiếc máy bay địch tháo chạy từ Tân Sơn Nhất, cất cánh bay ra phía biển; có chiếc trúng đạn, bốc cháy rực sáng trên bầu trời đêm.
Suốt các ngày 28 và 29/4, mặt cầu Rạch Chiếc trở thành "cối xay thịt" đúng nghĩa. Địch dùng pháo chụp - loại đạn nổ trên không gây sát thương cực lớn - dội xuống trận địa đặc công, trong khi bộ binh, thiết giáp và pháo binh địch từ hai phía đồng loạt ập vào, quyết chiếm lại cầu Rạch Chiếc. Quân ta cố giữ cầu, nhưng chưa có lực lượng chủ lực kịp thời đến tiếp ứng. Có những thời điểm lực lượng ta phải tạm lùi để bảo toàn lực lượng, nhưng cứ đêm xuống, các chiến sĩ lại băng mình qua làn đạn để chiếm lại từng tấc đất trên mố cầu. Trong cuộc giằng co nghiệt ngã ấy, hỏa lực AK, B40, B41 của ta đã phải đối đầu với cả một hệ thống xe bọc thép và giang thuyền hiện đại.
Trận chiến nảy lửa, kiên cường giữa những chiến sĩ đặc công với quân địch kéo dài. Các chiến sĩ quyết tâm bám trụ tại các vị trí chiến đấu trên và quanh cầu, chống trả quyết liệt từng đợt tấn công.

Cờ giải phóng tung bay trong chiến thắng trận cầu Rạch Chiếc 1975
Khúc tráng ca lúc bình minh
Đêm 29/4/1975, Đoàn đặc công thuộc Lữ đoàn 316 nhận mệnh lệnh: Bằng mọi giá phải chiếm lại cầu Rạch Chiếc. Rút kinh nghiệm từ trận đánh trước, thay vì mở cuộc tấn công lúc 23 giờ đêm như hôm qua, chỉ huy và các chiến sĩ quyết định thay đổi chiến thuật, ém quân dưới mặt nước, giữ im lặng tuyệt đối. Rạng sáng 30/4, cuộc tiến công cuối cùng bắt đầu. Từ dưới sông, 29 chiến sĩ đặc công còn lại của Z22 và Z23 đồng loạt nổ súng, tấn công chớp nhoáng, đánh thốc lên cầu. Quân địch lúc này đã rệu rã, không còn sức kháng cự. Lớp bị tiêu diệt, lớp tháo chạy trong hỗn loạn. 5 giờ 30 phút sáng, cầu Rạch Chiếc hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của ta. Không gian lặng đi sau những giờ phút nghẹt thở. Khoảng 7 giờ sáng, giữa khói súng mịt mù, những người lính đặc công với gương mặt sạm đen, quần áo rách tả tơi vì bùn đất và máu, bỗng thấy từ xa những chiếc xe tăng cắm lá cờ nửa xanh nửa đỏ sao vàng đang hùng dũng tiến tới. Những ngón tay đang đặt trên cò súng bỗng khựng lại. Niềm vui vỡ òa trong nước mắt khi họ nhận ra đó là Lữ đoàn 203 của Quân đoàn 2. Cầu Rạch Chiếc đã thông! Cánh cửa vào Sài Gòn đã mở toang. 11 giờ 30 trưa hôm ấy, lá cờ Cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, kết thúc 21 năm chiến tranh đằng đẵng.
Nhưng trong niềm vui đại thắng, một khoảng lặng mênh mông bao trùm lên đơn vị đặc công. Khi điểm danh lại quân số, 52 chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại. Họ ngã xuống ngay ngưỡng cửa của hòa bình, khi chỉ còn vài giờ nữa là tiếng súng sẽ tắt hẳn.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, cầu Rạch Chiếc hôm nay đã được xây dựng lại hiện đại, hiên ngang giữa dòng xe tấp nập của Thành phố Hồ Chí Minh năng động. Nhưng dưới chân cầu ấy, dưới dòng nước sâu thẳm, vẫn còn 43 thi thể liệt sĩ chưa thể quy tập. Các anh đã hòa mình vào sóng nước, hóa thân thành nhịp cầu bền vững cho Tổ quốc.
Năm 2015, Công viên - Bia tưởng niệm các liệt sĩ cầu Rạch Chiếc đã được khánh thành. Đó không chỉ là một công trình kiến trúc, mà là nén tâm nhang của người sống gửi đến những chàng trai mười chín, đôi mươi đã hiến dâng tuổi xuân cho ngày toàn thắng.
Ký ức về trận đánh Rạch Chiếc vẫn luôn bỏng cháy như lời kể của những nhân chứng lịch sử. Bởi ở đó, có một sự thật giản đơn mà cao cả: Để có một bình minh hòa bình rực rỡ, đã có những người lính lặng lẽ chọn nằm lại trong bóng đêm ngay trước giờ ánh sáng rạng ngời.
(CATP) Về thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch quyết chiến chiến lược mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Ðảng ta đã đánh giá: Là bước phát triển ở giai đoạn chín muồi trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là kết quả hợp thành của tất cả những lực lượng, những yếu tố làm nên sức mạnh tất thắng của Nhân dân ta trong cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã diễn ra với tốc độ "một ngày bằng 20 năm". Một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định tạo nên sức mạnh tất thắng đó chính là sự kết hợp giữa sức mạnh của hậu phương lớn Miền Bắc với sức mạnh của hậu phương tại chỗ ở Miền Nam.
HUỲNH THIÊN - DUY LUÂN - THANH THỦY