Ông đã kiên định đi qua bóng tối, kiên cường, dũng cảm vượt qua hàng ngàn ngày trong xích xiềng tù ngục, những nơi được gọi là “địa ngục trần gian” với các ngón đòn tra tấn khốc liệt, những cám dỗ, hầm tối; vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, máu và nước mắt để được chết trong ánh sáng. Cái chết của ông hóa thân thành đóa hoa đào vươn qua khe tường xám lạnh, báo hiệu mùa xuân đang đến cho cả một dân tộc. Trên cuộc đời này lẽ nào có một tình yêu lớn lao, trong suốt, đẹp đẽ đến thế? Để trả lời câu hỏi đó, chúng tôi - những người đang được sống trong những ngày đầu thế kỷ XXI này đã xuyên không gian, thời gian đi tìm lại cội nguồn và chợt nhìn thấy mẹ trong bóng hình những người con…
Liệt sĩ Tô Chấn
Tô Chấn sinh năm 1904, đến với Cách mạng từ năm 1925 trong các tổ chức yêu nước ở Hà Nội, Sài Gòn và Nam Bộ. Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu và trở thành đảng viên cốt cán, kiên cường, được cử làm Đảng trưởng Kỳ bộ Nam Kỳ. Năm 1930, sau cuộc khởi nghĩa không thành của Việt Nam Quốc dân Đảng, Pháp tiến hành khủng bố rất dã man. Nhiều nhà Cách mạng ở Hà Nội bị lộ, tìm đường vào Nam hoạt động, được Tô Chấn giúp đỡ. Cuối năm 1930, Tô Chấn bị Pháp bắt, đày ra Côn Đảo và đưa đến Banh 1- khám tù dành để giam giữ “những người nguy hiểm”. Ông Lê Văn Lương từng giữ các chức vụ quan trọng trong Đảng Cộng sản Việt Nam như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Thành ủy Hà Nội - người cùng làng Xuân Cầu với Tô Chấn - kể lại: “Ra đến Côn Đảo, Tô Chấn đã nhanh chóng chuyển sang hàng ngũ Cộng sản. Anh am hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, được anh em tín nhiệm cử vào Ban lãnh đạo Chi bộ nhà tù Côn Đảo gồm bốn người: Ngô Gia Tự, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Tô Chấn. Đầu năm 1936, anh cùng Ngô Gia Tự - Bí thư đầu tiên của Xứ ủy Nam Kỳ và một số đồng chí nữa vượt ngục về đất liền hoạt động, không may tất cả đều hy sinh trên biển…”.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Ngô Thị Lý (thường gọi bà Cả Y, sinh năm 1877) là thân mẫu của hai liệt sĩ Cách mạng kiên trung Tô Chấn và Tô Hiệu
Và em trai - Liệt sĩ Tô Hiệu
Mới 14 tuổi, năm 1926 do hăng hái tham gia bãi khóa để tang chí sĩ Phan Châu Trinh nên Tô Hiệu bị đuổi học. Người anh cả Tô Tu thu xếp cho Tô Hiệu lên Hà Nội học, ở cùng gia đình ông. Những năm 1929 - 1930, Hà Nội sục sôi phong trào Cách mạng, tác động sâu sắc đến tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Tô Hiệu tham gia mít-tinh, biểu tình, bãi khóa, đòi Pháp trả tự do lại cho cụ Phan Bội Châu; được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, sau trở thành Đông Dương Cộng sản Đảng kết nạp vào hội. Khi phong trào bị đàn áp ở Hà Nội, nhờ sự giúp đỡ của Tô Chấn, Tô Hiệu vào Sài Gòn hoạt động. Cả hai anh em sau đó đều lần lượt bị bắt, đày ra Côn Đảo. Năm đó, Tô Hiệu mới 18 tuổi. Hai anh em gặp lại nhau chưa được bao lâu thì Tô Chấn đã vĩnh viễn nằm lại giữa lòng đại dương…
Do tham gia tổ chức đóng bè vượt ngục bị lộ, Tô Hiệu bị chúa ngục Côn Đảo phạt giam xuống hầm xay lúa. Ở Côn Đảo, nghe nói đến “hầm xay lúa” thì mọi người đều biết đó là khu trừng giới của thực dân Pháp. Bị giam lâu trong căn hầm ồn ào, tối mờ mờ, lại bị mày trấu, bụi thóc bắn vào nên mắt Tô Hiệu kém dần. Không những thế, những ngày ở hầm xay lúa đã hủy hoại hai lá phổi thanh xuân của ông…
Cuối năm 1934, Tô Hiệu được ra tù và bị địch quản thúc nghiêm ngặt tại quê nhà. Vượt qua sự kềm tỏa của thực dân Pháp, Tô Hiệu cùng một số đồng chí trung kiên tích cực khôi phục lại Xứ ủy Bắc Kỳ, phát động cao trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương những năm 1936 -1938. Với cương vị Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách công tác tổ chức và huấn luyện, Tô Hiệu cùng Võ Nguyên Giáp được Xứ ủy cử lãnh đạo Hội truyền bá quốc ngữ do cụ Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch. Chỉ trong mấy năm, kể từ khi ra tù vào năm 1934, Tô Hiệu đã xây dựng được phong trào xã Xuân Cầu ngay trên quê hương mình thành cái nôi Cách mạng của một tỉnh nổi tiếng miền Bắc. Trong lúc phong trào Cách mạng ở Hà Nội và xung quanh đang lên mạnh thì một hôm, vào giữa năm 1938, Tô Hiệu ho ra máu, thổ ra từng bát huyết, phải đưa vào Bệnh viện Bạch Mai cấp cứu. Bác sĩ thông báo bệnh lao của ông đã bước vào thời kỳ kịch phát. Vậy mà ông chỉ nằm viện 1 tháng rồi tiếp tục công tác, sẵn sàng nhận nhiệm vụ Bí thư liên tỉnh B từ Trung ương Đảng vào tháng 3/1939, gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và trực tiếp làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng.

Tô Hiệu (1912 - 1944)

Tô Chấn (1904 - 1936)
Một buổi chiều cuối năm 1939, Tô Hiệu xuống đò sang xóm Thợ, bên kia cầu Thượng Lý kiểm tra công tác ấn loát truyền đơn, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới thì bị địch bắt trong một cuộc vây ráp bất ngờ tại ngôi nhà một cơ sở khi cùng các đồng chí xem tờ báo “Chiến đấu” số mới nhất. Bị kẻ thù dùng mọi cực hình tra tấn dã man nhưng Tô Hiệu vẫn giữ khí tiết người Cộng sản. Tòa án Hải Phòng xử mức án 5 năm tù giam, đưa về Hà Nội rồi đày Tô Hiệu đến nhà tù Sơn La. Ngày 07/3/1944, Tô Hiệu trút hơi thở cuối cùng. Hy sinh ở tuổi 32, Tô Hiệu đã sống cuộc đời trong suốt của “Một người Cộng sản mẫu mực hy sinh hết thảy cho giai cấp, cho dân tộc” như lời của Đại tướng Văn Tiến Dũng - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Chồng mất khi mới 29 tuổi, bà Ngô Thị Lý một mình nuôi 5 người con: Tô Tu, Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Thị Xuyến, Tô Thị Phúc. Khi đó, con trai đầu mới 15 tuổi, bà phải thật bản lĩnh, kiên cường để gia đình không đổ sụp. Cụ Cả Y (tên thường gọi của bà Ngô Thị Lý) phải tần tảo thuê mấy sào ruộng cày cấy nuôi con. Thật cảm động khi suốt những năm hai con trai sa vào tay quân Pháp, cụ Lý cùng con gái là Tô Thị Phúc đi hết nhà tù này sang nhà tù khác để thăm nuôi. Người mẹ ấy lặng lẽ giấu bên trong sức mạnh của lòng dũng cảm phi thường. Năm 1934, sau khi mãn hạn tù Côn Đảo, Tô Hiệu bị địch quản thúc ở làng. Chúng lập bốt gác ngay đầu cầu Tam Kỳ nhằm kiểm soát những người qua lại và liên hệ với gia đình họ Tô. Nhưng nhà mẹ Lý vẫn là nơi nuôi giấu các vị lãnh đạo, cán bộ Cách mạng tiền bối như Hoàng Văn Thụ, Trần Huy Liệu, Trần Tử Bình... Mẹ chăm sóc các anh như con đẻ, các anh rất thương và nhận cụ là mẹ nuôi.
Có biết bao đêm đông lòng mẹ xốn xang nhớ đến các con, đứa biền biệt tin tức, đứa đang trong vòng lao lý. Cách mạng tháng Tám thành công, cụ Ngô Thị Lý mới biết đích xác Tô Chấn và Tô Hiệu đã hy sinh. Thương con, người mẹ ấy khóc nhiều nên hai mắt bị lòa. Năm 1946, mẹ được Bác Hồ mời ra Hà Nội thăm hỏi và tặng quà. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, dù tuổi cao sức yếu, mẹ kiên quyết không chịu ở lại vùng giặc chiếm đóng, một mực đòi theo cháu con đi kháng chiến, lên Việt Bắc tản cư. Mẹ cùng con gái Tô Thị Phúc làm nhà tranh trên một quả đồi ở Phú Thọ, cuốc đất trồng khoai, tăng gia sản xuất, dù mắt không còn thấy gì nữa. Mẹ mất ngày 08/8/1952. Sau năm 1954, hài cốt người mẹ Anh hùng ấy được đưa về khu mộ gia đình tại Nghĩa trang Tam Kỳ, Nghĩa Trụ, Văn Giang, Hưng Yên...