Từ thi đàn Côn Đảo
Thế kỷ XIX khép lại với thất bại và bế tắc của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường vũ trang khởi nghĩa dưới ngọn cờ Cần Vương thì đầu thế kỷ XX lại mở ra con đường Duy Tân cứu nước mà Phan Châu Trinh là người khởi xướng và dấn thân.
Phan Châu Trinh sinh ngày 09/9/1872 ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng là người thông minh, ông đỗ cử nhân (1900), đỗ phó bảng (1901), được bổ chức Thừa biện bộ Lễ, rồi từ quan (1904), dốc lòng vào việc cứu nước. Phan Châu Trinh nhận thức được nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là khôi phục độc lập, chủ quyền dân tộc bằng con đường thức tỉnh dân chúng ra khỏi cơn mê muội của thực dân, phong kiến. Ông chọn con đường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động, chọn dân chủ làm con đường dẫn đến độc lập dân tộc với ba nhiệm vụ cấp bách là: Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh. Tư tưởng Duy Tân của Phan Chu Trinh thực chất là đổi mới tư duy, dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, mở đường cho một cao trào cách mạng nhằm nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, cải thiện dân sinh rộng khắp ba kỳ.

Nhà cách mạng Phan Châu Trinh
Sau vụ xin xâu, kháng thuế ở Trung Kỳ (1908), chính quyền thực dân thẳng tay đàn áp phong trào. Người chết dưới lưỡi gươm, làn đạn, người bị đày ra "địa ngục trần gian" Côn Lôn rùng rợn, dù "minh xã” hay "ám xã”, trong đó có những lãnh tụ tiêu biểu như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân, Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Võ Hoành, Nguyễn Thành, Trần Cao Vân, Phạm Cao Chẩm... Đây là một tổn thất lớn cho phong trào, ghi dấu ấn đậm nét cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, khiến cho các sĩ phu yêu nước phải trăn trở về con đường cứu nước và mở ra một diễn đàn văn hóa tư tưởng ngay trong nhà tù đế quốc.
Mở đầu cho trang sử hoạt động văn hóa tư tưởng trong tù là Thi đàn Côn Đảo. Các sĩ phu dùng thơ ca xướng họa về nỗi lòng với quê hương và nỗi đau mất nước, trân trọng cốt cách và tinh thần dũng liệt của các đồng chí vì sự nghiệp đánh đuổi kẻ thù chung, từ đó mà suy ngẫm, luận bàn việc nước. Thi đàn Côn Đảo đã góp phần rèn luyện, bồi dưỡng chí khí, hoài bão của những sĩ phu đầy tâm huyết trong ngục tù. Huỳnh Thúc Kháng đã ghi lại Thi đàn trong Thi tù tùng thoại, ngợi ca sức mạnh di dưỡng tinh thần từ những vần thơ cất lên giữa chốn lao tù ngoài bể khơi sóng vỗ: Đến cảnh tù, trăm điều tự do không còn một chút gì, đến cả cái xu xác cũng không phải của mình, chỉ lựa có một chút tự chủ về tinh thần mà muốn an ủi cho tinh thần thì thi văn lại là món ăn tu dưỡng tinh thần, đã không phương hại gì mà lại có sự bổ ích rất rõ ràng [...] Thi cùng mà sau mới hay cái đó không dám chắc. Song thi văn có thể làm món nuôi tinh thần trong cảnh cùng thì chính tôi là một người đã nhờ món quà ấy mà nuôi tinh thần được sống đến ngày nay.

Hai cụ Ngô Đức Kế (trái) và Huỳnh Thúc Kháng cùng bị đày ra Côn Đảo năm 1908
"Thi đàn Côn Đảo" là diễn đàn xướng họa, giãi bày nỗi niềm, bày tỏ chí hướng, chung lo "Quốc sự". Đứng hàng đầu trên thi đàn Côn Đảo là Phan Châu Trinh. Khí phách hiên ngang, không ham danh lợi, không sợ tù đày, không khuất phục uy vũ, xem cái chết nhẹ như tơ, kiên định lập trường, Phan Chu Trinh theo đuổi lý tưởng cứu nước cứu dân đến trọn đời. Khi bị dẫn giải ra khỏi cửa ngục Huế, biết bị đày đi Côn Lôn, Phan Châu Trinh ứng khẩu đọc 4 câu thơ:
Luy luy già tỏa biệt đô môn,
Khẳng khái bi ca thiệt thượng tồn.
Quốc thổ trầm luân dân tộc tụy,
Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch:
Xiềng gông cà kệ biệt đô môn,
Khẳng khái ngâm nga lưỡi vẫn còn
Đất nước đắm chìm nòi giống mỏn
Làm trai nào sợ cái Côn Lôn.
Phan Châu Trinh bị giam ở Banh I ít lâu rồi ra an trí tại làng An Hải. Nghe tin các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn... bị đày ra sau hai tháng, cụ Phan đã gửi một bức thư tâm huyết động viên các đồng chí của mình: "Thoạt nghe anh em ra đây, giậm chân kêu trời một tiếng! Đoạn tự nghĩ, anh em vì quốc dân mà hy sinh đến phải ra đây, chắc trong lòng có trăm điều vui mà không chút gì buồn! Đây là một trường học thiên nhiên, mùi cay đắng trong đó, làm trai giữa thế kỳ 20 này, không thể không nếm cho biết". Biết tin các đồng chí phải đập đá, dọn tàu, bị đánh đập vì không quen lao động khổ sai nặng nhọc, Phan Châu Trinh đã làm bài thơ "Đập đá ở Côn Lôn", cổ vũ:
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
Lừng lẫy làm cho lở núi non
Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
Tháng ngày đâu quản thân sành sỏi
Mưa nắng đâu sờn dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan chi sợ chuyện cỏn con.
Đến diễn đàn tư tưởng của các sĩ phu yêu nước
Bài "Đập đá ở Côn Lôn" đầy khí phách của Phan Châu Trinh ghi đậm trong tâm khảm các đồng chí trong tù và truyền tâm huyết đến nhiều thế hệ người Việt. Hồn thơ và nhiệt huyết cứu nước từ Phan Châu Trinh đã lan tỏa đến các sĩ phu, mở ra "Thi đàn Côn Đảo".

Bài thơ "Đập đá ở Côn Lôn" được lưu lại trên bức tường ở nhà tù Côn Đảo
Không chỉ ngâm thơ, xướng họa, Thi đàn Côn Đảo trở thành những buổi sinh hoạt chính trị, đánh giá lại quá trình hoạt động, phác họa con đường tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhiều cuộc tranh luận về duy tâm - duy vật, về quân chủ - dân chủ đã trở thành diễn đàn chính trị của các sĩ phu yêu nước trong tù, không hiếm khi gay gắt, nhất là khi đụng đến những vấn đề chủ thuyết, duy vật, duy tâm, vận nước, mệnh trời...
Sách Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng phác họa cuộc tranh luận về chủ thuyết của các sĩ phu yêu nước trong tù: "Cụ Phan Châu Trinh trong lao tù vẫn tâm đắc một cách sâu sắc với thuyết "Dân quyền". Tú tài Nguyễn Văn Ngôn (Tùng Nham) là người thủy chung, chỉ chuyên một mặt thiết huyết. Cụ Đặng Nguyên Cẩn (Thái Sơn) thường có những phản ứng gay gắt khi phái cựu nho đưa ra thuyết mệnh trời, từng tranh luận nảy lửa với nhà nho thủ cựu Đặng Văn Bá (Nghiêu Giảng) về thuyết lý - số. Đặng Văn Bá "có tánh mê tín di truyền và cố chấp thành kiến" mỗi khi nghe anh em nói chuyện khoa học, triết học, cùng các học thuyết Âu - Tây thì không muốn nghe, mà xem ý không lấy làm phải, đến khi bàn dịch lý, nói số học mà có ai kích bác thì Đặng quân khăng khăng kiên chấp, cho mình là phải, đáo để, không chịu khuất, rõ là một nhà "chân thủ cựu" vậy. Nguyễn Quyền ưa bàn chủ nghĩa, thường dùng việc y dược ví với việc nước, chia bạn đồng tội và và tân đảng trong nước thành 3 phái: phái ôn hòa, phái bài ngoại, phái ỷ Pháp"...

Nhiều kỷ vật còn lưu lại về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của cụ Phan Châu Trinh
Các cuộc tranh luận chưa ngã ngũ khi bình chọn một con đường hoạt động cứu nước sau khi ra tù, nhưng đã manh nha ý tưởng hình thành một tổ chức mới mang tên Phục hưng Việt Nam (gọi tắt là Phục Việt hoặc Hưng Nam) mà các sáng lập viên là Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên, Ngô Đức Kế, Trần Hoành và Cử Ngò với ý tưởng: nghiên cứu về các nguyên nhân thất bại của các hoạt động trước đó; liên lạc với Phan Bội Châu và các đồng chí ở Trung Quốc; ra tù sẽ tuyên truyền vận động, xây dựng tổ chức Phục Việt.
Một số thành viên trong nhóm Phục Việt đã xúc tiến vượt ngục về xây dựng tổ chức, trong đó có cụ Tú Kiên, tức Nguyễn Đình Kiên (1882 - 1941, hiệu là Hy Cao), là một nhà hoạt động cách mạng yêu nước nổi tiếng đầu thế kỷ XX tại Nghệ An. Ông là sáng lập viên Hội Phục Việt (sau là Tân Việt), tham gia phong trào Đông Du, Duy Tân.
Tháng 8/1917, Nguyễn Đình Kiên, Trần Hoành và Phạm Kim Đài cùng 3 tù thường phạm kết bè vượt ngục. Bè dạt vào tỉnh Bình Thuận, rồi bị bắt, đày trở lại Côn Đảo. Trong khi đó, Lê Văn Huân và Cử Ngò được trả lại tự do. Ngày 14/7/1925, Lê Văn Huân đã cùng Tôn Quang Phiệt, Trần Mộng Bạch, Ngô Đức Diễn đã nhóm họp ra mắt Phục Việt. Năm 1924, Nguyễn Đình Kiên được trả tự do, tham gia Hội Phục Việt, sau đổi thành Tân Việt cách mạng Đảng, một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông được cử làm Bí thư kỳ bộ Nam kỳ.
(CATP) Nếu như đấu tranh chống ly khai cộng sản là đỉnh cao trong phong trào đấu tranh của tù chính trị câu lưu (không án) thì đấu tranh chống chào cờ ngụy là đỉnh cao trong phong trào đấu tranh của tù án chính trị. Khẳng định Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là người đại diện hợp pháp duy nhất của Nhân dân miền Nam, công khai không thừa nhận chế độ ngụy quyền Sài Gòn, không chào cờ ngụy, không hô các khẩu hiệu phản động là nội dung cơ bản trong cuộc đấu tranh của tù án chính trị Côn Đảo.
NGUYỄN ĐÌNH - ĐỖ MẠNH - HÀ CHÂU