Phát triển kinh tế bạc - kiến tạo trụ cột an sinh bền vững

Thứ Ba, 03/11/2026 10:16  | Minh Thư

|

(CATP) Việt Nam (VN) đang tiến nhanh vào giai đoạn dân số (DS) già, kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe (CSSK), phục hồi chức năng, dịch vụ (DV) dưỡng lão và bảo đảm tài chính khi về già. Thay vì xem đây chỉ là áp lực an sinh, phát triển kinh tế bạc (KTB) mở ra cơ hội hình thành một hệ sinh thái DV mới, huy động nguồn lực xã hội (XH) và tạo nền tảng để người cao tuổi (NCT) sống khỏe, sống chủ động, tiếp tục đóng góp cho cộng đồng.

Già hóa dân số: Từ thách thức đến cơ hội

Tốc độ già hóa dân số (DS) đang đặt VN trước yêu cầu cấp thiết phải chuẩn bị hệ thống YT, an sinh và thị trường DV thích ứng. Tại buổi tọa đàm "Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững" do Tạp chí Kinh tế - Tài chính phối hợp với Bảo hiểm xã hội (BHXH) TPHCM tổ chức cuối tuần qua, các nhà quản lý, chuyên gia và đại diện cơ sở YT đã tập trung phân tích những thách thức này đồng thời gợi mở giải pháp phát triển một hệ sinh thái kinh tế dành cho NCT.

Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc, VN bước vào giai đoạn già hóa DS từ năm 2011 và dự kiến đến năm 2036 sẽ trở thành quốc gia có DS già, với khoảng 20% DS từ 60 tuổi trở lên. Thời gian chuyển từ già hóa sang DS già chỉ khoảng 25 năm, thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Dự báo đến năm 2039, số NCT có thể lên đến 16,8 triệu và tăng lên 25,2 triệu người vào năm 2069. Riêng TPHCM, cuối năm 2025 có khoảng 1,6 - 1,7 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm 11 - 12% DS. Tuổi thọ tăng, mức sinh giảm khiến quy mô nhóm DS này tiếp tục mở rộng. Cùng với đó là nhu cầu quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, nhà ở phù hợp, chăm sóc tại nhà và các DV hỗ trợ sinh hoạt.

Ông Nguyễn Duy Hiểu - Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội TPHCM - phát biểu

Già hóa DS không chỉ là thách thức đối với YT và an sinh xã hội (XH) mà còn mở ra cơ hội phát triển KTB. Đây là hệ sinh thái sản xuất, kinh doanh và cung ứng sản phẩm, DV phục vụ nhu cầu của NCT. Từ YT, dược phẩm, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, dưỡng lão đến tài chính, bảo hiểm, nhà ở và công nghệ. Quy mô thị trường chăm sóc NCT tại VN được dự báo tăng từ khoảng 2,3 tỷ USD năm 2024 lên 3,6 tỷ USD vào năm 2032. Tháng 6/2026, Bộ Nội vụ đã đề nghị các bộ, ngành rà soát, đề xuất cơ chế phát triển KTB đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Theo BS.CKII Đào Văn Sinh - Trưởng đại diện Văn phòng Bộ YT tại TPHCM, Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn DS vàng và đây là thời điểm quan trọng để chuẩn bị. Nếu chờ đến khi già hóa diễn ra toàn diện mới chuyển đổi, chi phí XH sẽ rất lớn. Ngược lại, hành động sớm sẽ giúp hình thành hệ sinh thái DV phục vụ nhu cầu trong nước đồng thời tạo cơ hội phát triển những mô hình có thể nhân rộng ra khu vực. Ông Sinh cho biết, tính đến ngày 21/10 cả nước có khoảng 73,6 triệu người được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc, đạt khoảng 71% DS. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) đến hết năm 2025 đạt 95,17% và ước tính đạt khoảng 96% trong năm 2026. Đây là nền tảng quan trọng để người dân, trong đó có NCT, tiếp cận DV chăm sóc sức khỏe (CSSK).

Tuy nhiên, NCT thường mắc nhiều bệnh cùng lúc, cần điều trị kéo dài, phục hồi chức năng và hỗ trợ sinh hoạt. Vì vậy, hệ thống chăm sóc không thể chỉ tập trung vào khám, chữa bệnh tại bệnh viện mà phải mở rộng sang phòng bệnh, quản lý sức khỏe liên tục, chăm sóc tại nhà và các DV dài hạn. Để KTB phát triển thực chất, ông Sinh cho rằng: "Cần đồng thời hoàn thiện cơ chế, tiêu chuẩn chất lượng đối với các mô hình chăm sóc. Khơi thông nguồn lực xã hội, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư; xây dựng cơ chế tài chính và bảo vệ an sinh bền vững. Bảo hiểm y tế tiếp tục là trụ cột quan trọng, song cần nghiên cứu thêm các giải pháp bảo hiểm (BH) bổ sung, chăm sóc dài hạn và tích lũy tài chính để người dân chủ động chuẩn bị cho tuổi già”.

Ông Huỳnh Minh Chín - Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM - phát biểu

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Duy Hiểu - Phó Giám đốc BHXH TPHCM - nhấn mạnh 2 trụ cột cần hướng đến là dòng tiền hưu trí bền vững và bảo đảm sức khỏe cho NCT. Khi chính sách BHXH, BHYT đồng hành cùng các DV chăm sóc phù hợp, già hóa DS sẽ không còn chỉ là áp lực đối với xã hội. Chăm sóc NCT, theo ông vừa thể hiện tính nhân văn vừa góp phần tạo nguồn lực và động lực phát triển kinh tế trong tương lai.

Khơi thông nguồn lực, hình thành hệ sinh thái dịch vụ

Tại tọa đàm, các diễn giả cho rằng bài toán đặt ra không chỉ là có thêm cơ sở dưỡng lão hay BV chuyên khoa, mà phải XD mạng lưới chăm sóc liên tục, phù hợp với sức khỏe, hoàn cảnh và khả năng chi trả của từng người. Chăm sóc cần bắt đầu từ phòng bệnh, khám định kỳ, quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng đến hỗ trợ sinh hoạt, giúp NCT duy trì khả năng sống độc lập lâu nhất có thể.

Thực tiễn TPHCM cho thấy, hệ thống YT đã có những bước chuẩn bị. Theo ông Huỳnh Minh Chín - Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM, thành phố hiện có 15 BV cấp thành phố thành lập khoa Lão khoa; 6 BV tổ chức khoa Lão khoa kết hợp và 11 BV tổ chức khoa Lão khoa liên kết với khoa khác. 100% cơ sở khám chữa bệnh triển khai khu vực tiếp nhận, khám và điều trị ưu tiên cho người từ 80 tuổi trở lên theo quy định của Luật NCT. Tỷ lệ NCT được cấp thẻ BHYT tại TP đạt khoảng 98%. Sau 3 năm triển khai kế hoạch khám sức khỏe, phát hiện sớm bệnh không lây nhiễm và lập hồ sơ sức khỏe, đến ngày 31/12/2025, TPHCM đã XD dữ liệu sức khỏe cho 629.092/1.572.988 NCT, tương đương 40%. Thành phố cũng có 42 cơ sở trợ giúp XH công lập và ngoài công lập, đang chăm sóc, nuôi dưỡng trên 4.000 NCT.

Bác sĩ CKII Đào Văn Sinh - Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Y tế tại TPHCM

Những kết quả này là nền tảng để mở rộng các loại hình DV nhưng quy mô DS cao tuổi ngày càng tăng đòi hỏi nguồn cung đa dạng hơn. Bên cạnh BV và cơ sở trợ giúp XH, cần phát triển chăm sóc tại nhà, trung tâm phục hồi chức năng, dịch vụ YT cộng đồng, cơ sở dưỡng lão với nhiều mức chi phí, nhà ở phù hợp và các giải pháp công nghệ hỗ trợ NCT.

Ở góc độ thị trường, TS. Nguyễn Thế Khang, Phó trưởng phụ trách Bộ môn Tài chính công - Trường Đại học Tài chính - Marketing, nhận định dư địa KTB tập trung ở 3 nhóm chính: y tế - chăm sóc sức khỏe; giải trí - du lịch; tài chính - bảo hiểm. Chăm sóc tại nhà, thiết bị hỗ trợ sức khỏe, tư vấn tài chính và sản phẩm BH dành cho NCT là những DV có nhu cầu đáng kể.

Cơ hội không chỉ dành cho doanh nghiệp YT, dược phẩm. Ngân hàng, BH, bất động sản và công nghệ cũng có thể tham gia phát triển các sản phẩm phù hợp, từ nhà ở thông minh, mô hình dưỡng lão kết hợp CSSK đến du lịch nghỉ dưỡng, đào tạo kỹ năng số và DV hỗ trợ sống độc lập. Điều đó cho thấy KTB không phải thị trường đơn lẻ mà là mạng lưới nhiều ngành nghề có khả năng liên kết, bổ trợ cho nhau. Người cao tuổi có nhu cầu đa dạng nhưng nguồn thu nhập không đồng đều, nếu DV chỉ hướng đến nhóm có điều kiện kinh tế khá giả, thị trường sẽ khó phát triển rộng. Vì thế, chính sách an sinh phải song hành với phát triển DV, bảo đảm NCT có nguồn thu ổn định và có thể tiếp cận các hình thức chăm sóc phù hợp.

Liên quan đến vấn đề trên, ông Nguyễn Duy Hiểu cho rằng cần chú trọng bảo đảm dòng tiền hưu trí bền vững. Bên cạnh BHXH, BHYT và chính sách trợ giúp XH, việc phát triển các sản phẩm tài chính, BH hưu trí tự nguyện và DV chăm sóc dài hạn sẽ giúp người dân có thêm lựa chọn chuẩn bị cho tuổi già. Đây cũng là điều kiện để hình thành sức mua ổn định, tạo cơ sở cho doanh nghiệp đầu tư lâu dài.

Để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia, các chuyên gia đề xuất hoàn thiện cơ chế về thuế, tín dụng, thử nghiệm chính sách và hợp tác công - tư. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, ban hành tiêu chuẩn, giám sát chất lượng và bảo vệ quyền lợi người sử dụng; doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và mô hình kinh doanh phù hợp. Việc kết nối hệ thống YT công lập với khu vực tư nhân cũng cần được tăng cường để sử dụng hiệu quả nguồn lực XH. Các diễn giả cũng đề cập những nhiệm vụ cần ưu tiên: phát triển nguồn nhân lực chăm sóc NCT; đa dạng hóa cơ sở và loại hình DV; củng cố hệ thống YT, phát triển chuyên ngành Lão khoa; chuyển đổi số dữ liệu và ứng dụng công nghệ; huy động cộng đồng, nguồn lực XH và mở rộng hợp tác quốc tế. Đặc biệt, cần thay đổi cách nhìn, không xem NCT chỉ là đối tượng cần chăm sóc mà còn là nguồn lực với kinh nghiệm, tri thức, sức mua và khả năng tiếp tục đóng góp cho XH thông qua học tập suốt đời, việc làm linh hoạt và hoạt động cộng đồng.

Những ý kiến, kiến nghị tại chương trình là cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện chính sách, gắn với định hướng của Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định 1116/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình CSSK người cao tuổi.

Già hóa DS là xu thế không thể đảo ngược. Điều cần thiết là chuẩn bị một hệ thống đủ năng lực để người dân bước vào tuổi già với sức khỏe được chăm sóc, tài chính được bảo đảm và cơ hội tiếp tục tham gia đời sống xã hội.

Bình luận (0)

Lên đầu trang