Niềm vui từ giá cá
Những ngày này, tại các vùng nuôi cá tra ở An Giang, Đồng Tháp và nhiều địa phương vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), không khí sản xuất trở nên phấn khởi hơn khi giá cá thương phẩm duy trì ở mức cao. Mức thu mua 37.000-38.000 đồng/kg đã trở thành mặt bằng phổ biến tại nhiều vùng nuôi.
Tại ấp Đông An (xã Phú Hòa, tỉnh An Giang), ông Huỳnh Nhan Thiện Trúc đang quản lý 9 ao nuôi cá tra, với tổng diện tích mặt nước 7,45ha. Năm 2026, sản lượng cá tra của gia đình ông ước đạt khoảng 2.180 tấn. Với mức giá thu mua hiện nay, người nuôi có thể đạt lợi nhuận khoảng 8.000 đồng/kg. Đây là kết quả đáng khích lệ sau những giai đoạn giá cá xuống thấp, nhiều hộ phải thu hẹp sản xuất, thậm chí treo ao để hạn chế thua lỗ.
Niềm vui của người nuôi càng rõ hơn khi nhìn lại những biến động của thị trường trong thời gian qua. Theo ông Trúc, giá cá tra giống hiện ở mức hơn 3.000 đồng/con, khiến chi phí đầu tư ban đầu tăng lên. Nhiều hộ nuôi vì vậy thận trọng hơn trong việc thả nuôi mới. Khi lượng cá thương phẩm đến kỳ thu hoạch giảm, trong khi doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu tăng nhu cầu thu mua nguyên liệu, giá cá được đẩy lên cao.
Thực tế này cho thấy, giá cá tra hiện nay không đơn thuần là kết quả của một đợt tăng giá nhất thời, mà phản ánh sự chênh lệch giữa nguồn cung và nhu cầu thị trường. Khi giá cá nguyên liệu xuống thấp kéo dài, người nuôi thường giảm mật độ thả nuôi, thu hẹp quy mô hoặc tạm ngưng sản xuất để tránh thua lỗ. Trong khi đó, cá tra cần một chu kỳ nhất định mới đạt trọng lượng thương phẩm. Vì vậy, khi nhu cầu thu mua phục hồi, nguồn cung không thể tăng ngay lập tức. Độ trễ của chu kỳ nuôi khiến thị trường dễ rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu cục bộ, tạo áp lực tăng giá.

Lãnh đạo xã Phú Hòa đến thăm những hộ nuôi cá tra nằm trong chuỗi liên kết
Ở chiều tiêu thụ, hoạt động xuất khẩu cũng tác động trực tiếp đến nhu cầu nguyên liệu. Từ tháng 8 đến tháng 12 hằng năm thường là giai đoạn cao điểm xuất khẩu cá tra sang Hoa Kỳ và Châu Âu, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong các dịp lễ Tạ ơn, Giáng sinh và năm mới. Khi doanh nghiệp phải bảo đảm tiến độ giao hàng theo những hợp đồng đã ký, nhu cầu thu mua cá nguyên liệu tăng lên, tạo thêm sức ép đối với nguồn cung trong nước.
Cá tra tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Năm 2025, sản lượng cá tra cả nước đạt khoảng 1,74 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu ước khoảng 2,1 tỷ USD. Kết quả ấy cho thấy quy mô và vị thế của ngành hàng, đồng thời khẳng định vai trò của vùng nuôi ĐBSCL, trong đó An Giang là địa bàn sản xuất trọng điểm.
Tuy nhiên, giá cá đầu ra tăng là điều kiện thuận lợi, nhưng khả năng tiếp cận vốn và kiểm soát chi phí mới quyết định người nuôi có thể tận dụng được cơ hội hay không.
Thị trường nhiều sức ép
Giá cá nguyên liệu tăng mang lại lợi ích cho người nuôi, nhưng đặt doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu trước bài toán khó. Doanh nghiệp phải bảo đảm nguồn nguyên liệu thực hiện hợp đồng đã ký, trong khi giá thu mua tăng nhanh. Nếu giá bán xuất khẩu không điều chỉnh tương ứng, biên lợi nhuận sẽ thu hẹp, thậm chí phát sinh rủi ro với những hợp đồng được ký trước đó ở mức giá thấp.
Ông Doãn Tới (Tổng Giám đốc Tập đoàn Nam Việt) từng lưu ý áp lực cạnh tranh khi giá cá tra nguyên liệu tăng cao. Giá đầu vào tăng có thể khiến cá tra Việt Nam bất lợi trước các mặt hàng thủy sản thay thế từ quốc gia khác. Bởi doanh nghiệp khó điều chỉnh giá bán khi đã ký hợp đồng, còn người nuôi cũng không thể duy trì sản xuất nếu giá thu mua không đủ bù đắp chi phí.

Công nhân vùng nuôi của ông Trúc chuẩn bị đưa thức ăn xuống ao
Thực tế, lợi ích của người nuôi và doanh nghiệp chế biến luôn gắn bó. Giá nguyên liệu cao giúp người nuôi có thêm lợi nhuận, nhưng nếu vượt khả năng chấp nhận của thị trường, doanh nghiệp có thể giảm đơn hàng hoặc tìm nguồn cung khác. Ngược lại, giá thu mua quá thấp khiến người nuôi thua lỗ, giảm thả nuôi dẫn đến thiếu hụt nguyên liệu ở những vụ tiếp theo. Vì vậy, các mắt xích phải cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro để duy trì chuỗi sản xuất bền vững.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, mức tăng trưởng không đồng đều. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt khoảng 417 triệu USD, tăng 29%; Hoa Kỳ đạt khoảng 203 triệu USD, giảm 13%; các thị trường CPTPP đạt khoảng 264 triệu USD, tăng 12%, EU đạt khoảng 130 triệu USD, tăng 10%. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường, nâng cao chất lượng và đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu để duy trì sức cạnh tranh.
Bên cạnh đầu ra, chi phí sản xuất và chất lượng con giống tiếp tục là những "điểm nghẽn". Thức ăn công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành, cùng với chi phí con giống, điện, dầu, thuốc thú y thủy sản, xử lý môi trường và lãi vay. Khi đầu vào tăng, lợi nhuận có thể nhanh chóng bị bào mòn nếu giá cá thương phẩm đảo chiều. Mức lãi khoảng 8.000 đồng/kg hiện nay là tín hiệu tích cực, nhưng không bảo đảm ổn định cho mọi vụ nuôi. Trong khi đó, giống không đồng đều, không rõ nguồn gốc có thể làm tăng hao hụt, kéo dài thời gian nuôi và đẩy giá thành lên cao.
Thị trường xuất khẩu đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường. Theo ông Lê Trung Dũng (Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản tỉnh), cần khuyến khích người dân, doanh nghiệp ứng dụng khoa học, công nghệ, mở rộng mô hình nuôi công nghệ cao, thân thiện môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi, bảo đảm vùng nuôi đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu, ổn định nguồn nguyên liệu và đầu ra.
Một rủi ro khác là tâm lý mở rộng sản xuất khi giá cá tăng. Nếu người nuôi ồ ạt tăng đàn, thả nuôi không căn cứ quy hoạch và nhu cầu tiêu thụ, nguồn cung có thể dư thừa trong những vụ tiếp theo. Khi thị trường đảo chiều, giá giảm sâu, người nuôi lại đối mặt nguy cơ thua lỗ. Bởi vậy, mức giá 37.000-38.000 đồng/kg cần được xem là cơ hội củng cố ngành hàng, không phải tín hiệu mở rộng diện tích bằng mọi giá. Người nuôi phải tính toán hiệu quả cả chu kỳ, doanh nghiệp gắn kế hoạch thu mua với đơn hàng thực tế, cơ quan quản lý theo dõi sát cung cầu và chất lượng vùng nuôi.

Xã Phú Hòa quy hoạch 190ha nuôi thủy sản, trong đó có 114ha mặt nước
Đổi mới để đi đường dài
An Giang có lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn nước và hệ thống doanh nghiệp chế biến thủy sản. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh định hướng duy trì diện tích nuôi cá tra khoảng 1.500-1.600ha, tập trung tại các địa phương ven sông Tiền, sông Hậu như Tân Châu, Châu Phú, Châu Thành và những vùng nuôi trọng điểm.
Tại xã Phú Hòa - địa phương quy hoạch 190ha nuôi thủy sản (trong đó có 114ha mặt nước) hình thành hai vùng nuôi cá tra phục vụ xuất khẩu, với tổng diện tích hơn 22,8ha. Năm 2026, sản lượng cá tra ước đạt gần 3.100 tấn, doanh thu khoảng 103,4 tỷ đồng, lợi nhuận ước 8 tỷ đồng. Theo bà Lý Thùy Giang (Chủ tịch UBND xã Phú Hòa), địa phương định hướng phát triển vùng nuôi tập trung, gắn với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ. Các vùng nuôi từng bước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, qua đó giúp người nuôi ổn định đầu ra, doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu.
Ông Lê Trung Dũng cũng nhấn mạnh, cần mở rộng liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và người nuôi. Khi cùng tham gia chuỗi sản xuất, kế hoạch thả nuôi sẽ gắn với nhu cầu thu mua, tiêu chuẩn nguyên liệu và lịch giao hàng của nhà máy. Đây là giải pháp giúp các bên giảm rủi ro, thay vì để người nuôi tự xoay xở trước biến động giá cả.
Một hướng đi quan trọng khác là phát triển nguồn giống chất lượng cao. An Giang đã định hướng xây dựng chuỗi sản xuất cá tra giống ba cấp, phát triển các vùng sản xuất tập trung tại khu vực Tân Châu, An Phú và Châu Phú, từng bước trở thành trung tâm sản xuất giống cá tra lớn của vùng ĐBSCL. Mục tiêu là kiểm soát nguồn gốc, chất lượng và sức khỏe đàn giống, góp phần nâng tỷ lệ sống, giảm hao hụt và chi phí nuôi.
Ở tầm quốc gia, ông Phùng Đức Tiến từng nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi số toàn chuỗi giá trị cá tra, từ quản lý vùng nuôi, kiểm soát chất lượng đến truy xuất nguồn gốc. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, tối ưu quy trình nuôi và kiểm soát phát thải ngày càng cần thiết để sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu.
Với doanh nghiệp, đổi mới còn là tổ chức lại chuỗi cung ứng, chủ động từ con giống, thức ăn, vùng nuôi đến chế biến. Những chia sẻ đã được công bố của ông Doãn Tới về mô hình sản xuất khép kín cho thấy vai trò của doanh nghiệp đầu tàu trong kết nối các công đoạn, kiểm soát chất lượng và ổn định nguồn nguyên liệu.
Ngành cá tra cũng cần giảm phụ thuộc vào sản phẩm sơ chế, tăng chế biến sâu và khai thác phụ phẩm. Da, mỡ, xương cá có thể trở thành nguyên liệu cho những dòng sản phẩm giá trị gia tăng, vừa nâng hiệu quả sử dụng nguyên liệu, vừa giảm chất thải. Cùng với đó, doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường, giữ vững các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hoa Kỳ, đồng thời khai thác cơ hội tại CPTPP, Châu Âu, Trung Đông và Mỹ Latinh. Muốn vậy, sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu riêng về chất lượng, giá cả và truy xuất nguồn gốc của từng thị trường.