Tháng 4 năm 1975, khi những cánh Quân Giải phóng rầm rập tiến về Sài Gòn với khí thế thần tốc, táo bạo, cả dân tộc Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của một định mệnh mới. Không chỉ là một chiến dịch quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử giữ nước, Chiến dịch Hồ Chí Minh còn là cuộc tổng diễn tập của ý chí độc lập và khát vọng hòa bình cháy bỏng suốt 30 năm ròng rã. Từ những quyết sách cân não tại Tổng hành dinh đến sức công phá của vành đai Xuân Lộc, chúng ta cùng nhìn lại hành trình 20 ngày đêm rực lửa - nơi bản hùng ca khải hoàn được viết bằng niềm tin sắt đá vào chính nghĩa của một dân tộc anh hùng.

Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh tại căn cứ Tà Thiết - Lộc Ninh (tháng 4/1975)
Sự chuẩn bị chiến lược và quyết tâm giải phóng miền Nam
Sau những thắng lợi to lớn của các chiến dịch Tây Nguyên, Trị Thiên, Huế - Đà Nẵng, đánh dấu bước trưởng thành mới và toàn diện của quân đội ta, các đơn vị bộ độ chủ lực tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, về chỉ huy tác chiến và về kết hợp binh chủng trong các chiến dịch có quy mô lớn, đồng thời thu được thêm nhiều vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật của địch, sức mạnh chiến đấu của các binh đoàn chủ lực của ta tăng lên. Lực lượng vũ trang địa phương của ta cũng phát triển về cả số lượng và chất lượng, đã tạo điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.
Bộ Chính trị khi đó đã kịp thời đánh giá tình hình, so sánh về thế và lực giữa ta và địch đã có sự chuyển biến vượt bậc rất có lợi cho quân ta. Căn cứ vào tình hình chuẩn bị và quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngày 29/3/1975, Trung ương Cục Miền Nam ban hành Nghị quyết khẳng định thời cơ cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào sào huyệt cuối cùng của địch đã chín muồi. Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng nhằm hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân và thống nhất đất nước chính thức bắt đầu từ đầu tháng 4/1975.
Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp và đưa ra nhận định: "Về chiến lược, về lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo, địch đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong... thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi". Bộ Chính trị đã ra quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, chỉ thị cho quân đội ta gấp rút đưa lực lượng vào phía Nam, áp sát Sài Gòn, với tinh thần "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" từ nhiều mũi tiến công binh chủng hợp thành, để khi thời cơ xuất hiện, thì tức khắc đánh chiếm các cơ quan đầu não, các mục tiêu quan trọng nhất trong Thành phố.
Ngay trong ngày 31/3/1975, Quân đoàn 1 - Binh đoàn cơ động số 1 của ta, được lệnh nhanh chóng đưa toàn bộ quân đoàn từ ngoài Bắc vào Đồng Xoài. Cánh quân Duyên Hải vừa mới thành lập chủ yếu là của Quân đoàn 2 và Quân khu 5, được lệnh đập nát cụm phòng ngự Phan Rang, tràn tới Bình Tuy, Quân đoàn được lệnh tiêu diệt Sư đoàn 18 ngụy ở Xuân Lộc, một cửa ngõ quan trọng ở phía đông Sài Gòn. Đoàn 232 vừa mới thành lập được lệnh đánh chiếm An Ninh - Lộc Giang, tạo bàn đạp tấn công từ phía Tây Nam; còn Quân đoàn 3 vừa giải phóng Tây nguyên được lệnh chiếm lĩnh Sài Gòn từ hướng Tây Bắc.
Đến ngày 06/4/1975, Thường vụ Trung ương Cục Miền Nam gửi điện chỉ đạo các mặt trận phải dứt điểm các thành thị, đánh đổ toàn bộ ngụy quyền để giải phóng hoàn toàn Miền Nam. Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã nhanh chóng vạch kế hoạch tiến công Sài Gòn trên 5 hướng trọng yếu: hướng Đông (Quân đoàn 4), hướng Tây Bắc (Sư đoàn 9 và các trung đoàn tăng cường), hướng Tây (Đoàn 232), hướng Nam (Quân khu VIII) và hướng Bắc (Trung đoàn Gia Định phối hợp đặc công).

Bộ đội Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tiến công giải phóng thị xã Xuân Lộc, đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất phía Đông Sài Gòn, ngày 21/4/1975
Thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch
Trong cuộc họp ngày 08/4/1975 ở căn cứ Tà Thiết (Lộc Ninh), Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định gồm các đồng chí: Văn Tiến Dũng (Tư lệnh); Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn (Phó Tư lệnh); Phạm Hùng (Chính ủy); Lê Ngọc Hiển (Tham mưu trưởng)... Bộ Chính trị khẳng định: Cuộc tổng tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu, thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm, quyết tâm giải phóng Miền Nam. Do đó, cần tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí, kỹ thuật và vật chất để giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Sau đó, có nhiều ý kiến đề nghị nên lấy tên Bác đặt tên cho chiến dịch tiến công vào Sài Gòn. Bộ Chỉ huy chiến dịch thấy ý kiến này rất hợp với tình cảm của cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân ta đối với Bác nên đã nhất trí điện ra Hà Nội xin ý kiến Bộ Chính trị cho đặt tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngày 14/4/1975, thể theo nguyện vọng của Nhân dân và các lực lượng vũ trang trên chiến trường, trong đó có quân và dân thành phố Sài Gòn - Gia Định, Bộ Chính trị đã phê chuẩn đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch, đặt tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia định là "Chiến dịch Hồ Chí Minh" nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn bộ Miền Nam trước mùa mưa. Kế hoạch tác chiến được chia làm hai bước chính: Bước một (từ 08/4): Tiến công chia cắt chiến lược, bao vây vùng ven và đánh chiếm các mục tiêu nội thành, chuẩn bị cho tổng tiến công. Bước hai (dự kiến từ 15 đến 20/4): Thực hiện đột kích đồng loạt trên 5 hướng bằng lực lượng hùng hậu gồm các sư đoàn chủ lực, đặc công, biệt động phối hợp với quần chúng nổi dậy.
Trong bối cảnh đại quân ta đang áp sát Sài Gòn, ngày 07/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi điện lệnh cho các đơn vị: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng Miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng". Mệnh lệnh lịch sử này trở thành kim chỉ nam cho các cánh quân vượt qua mọi gian khổ để kịp thời tham chiến. Cả nước sôi nổi không khí ra trận. Các quân đoàn binh chủng hợp thành cùng nhiều đơn vị công binh, pháo binh, phòng không, xe tăng, đặc công ào ạt tiến quân về chiến trường trọng điểm; vừa đi, vừa đánh địch, vừa mở đường, bắc cầu.
Đập tan phòng tuyến Phan Rang - Xuân Lộc, chính quyền Sài Gòn sụp đổ
Cánh quân phía Đông dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Lê Trọng Tấn đã thực hiện cuộc hành quân thần tốc dọc theo Đường số 1. Mục tiêu trọng điểm là Phan Rang - nơi địch xây dựng tuyến phòng thủ từ xa nhằm cứu vãn tình thế. Dù chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã nỗ lực cải tổ nội các thành "nội các chiến đấu", nhưng không thể ngăn cản đà tiến công của quân ta.
Sáng ngày 14/4/1975, quân ta nổ súng đánh Phan Rang. Đến ngày 16/4, phòng tuyến này hoàn toàn tan rã. Quân giải phóng tiêu diệt Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu III và bắt sống nhiều tướng lĩnh cao cấp của địch. Chiến thắng này mở toang cánh cửa phía Đông, giải phóng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy, tạo đà cho hơn 32.000 quân cùng khí tài hiện đại tiến thẳng về ranh giới Sài Gòn đúng thời gian quy định.
Xuân Lộc được quân đội Sài Gòn xác định là vành đai bảo vệ thủ phủ phía Đông Bắc. Với sự hậu thuẫn từ cố vấn Mỹ, địch quyết tâm "tử thủ” bằng mọi giá, tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất như Sư đoàn 18, các lữ đoàn dù và thủy quân lục chiến. Trận đánh diễn ra vô cùng quyết liệt từ ngày 09/4/1975.
Sau giai đoạn đầu gặp khó khăn do cách đánh chưa phù hợp, Bộ Tư lệnh Miền đã điều chỉnh chiến thuật từ tấn công trực diện sang bao vây, chia cắt và đánh chiếm các tuyến tiếp viện vòng ngoài. Sự thay đổi này đã phát huy hiệu quả tức thì. Ngày 20/4/1975, quân địch tại Xuân Lộc buộc phải tháo chạy. Việc mất Xuân Lộc làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lại, khiến tinh thần quân đội Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ.
Thất bại liên tiếp trên chiến trường buộc Tổng thống Mỹ Gerald Ford phải ra lệnh di tản người Mỹ vào ngày 18/4. Dưới áp lực từ Washington, ngày 22/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức và rời khỏi Việt Nam.
Ngày 23/4/1975, Tổng thống Ford công khai tuyên bố cuộc chiến tại Việt Nam đã kết thúc đối với Mỹ. Mọi nỗ lực ngoại giao của chính quyền Trần Văn Hương thông qua các nước trung gian nhằm tìm kiếm giải pháp ngừng bắn hay thương lượng đều bị phía Cách mạng bác bỏ. Đây thực chất chỉ là những âm mưu trì hoãn nhằm cứu vãn thất bại hoàn toàn của một chế độ đã đi đến hồi kết.
HUỲNH THIÊN - DUY LUÂN - THANH THỦY