(CATP) Trong lịch sử báo chí và tư tưởng Cách mạng Việt Nam, có những tên tuổi mà mỗi dòng chữ họ để lại không chỉ là văn bản, mà là vũ khí, là ánh sáng soi đường giữa đêm đen nô lệ. Tổng Bí thư Hà Huy Tập chính là một nhân vật như thế. Với tư duy của một trí thức uyên bác và nhạy bén, đồng chí đã dùng ngòi bút làm vũ khí, xác lập vị thế của một nhà lý luận sắc sảo, người đặt những viên gạch đầu tiên cho công tác tổng kết thực tiễn và xây dựng hệ thống lý luận chính trị của Đảng ta.
Bút danh Hồng Thế Công và những pho sử cách mạng đầu tiên
Ngược dòng thời gian về những năm 1929 - 1932, khi đang học tập tại Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô), Hà Huy Tập đã bắt đầu bộc lộ năng lực của một nhà chính luận tầm cỡ. Dưới bút danh Hồng Thế Công, đồng chí liên tục có các bài viết đăng trên Tạp chí Bôn-sê-vích (cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp) và các ấn phẩm của Quốc tế Cộng sản. Đó không đơn thuần là những bài báo giới thiệu tình hình, mà là những công trình nghiên cứu nghiêm túc về con đường giải phóng dân tộc tại Đông Dương.
Tác phẩm tiêu biểu nhất, đóng vai trò cột mốc trong di sản của đồng chí chính là cuốn "Sơ thảo lịch sử phong trào Cộng sản ở Đông Dương" (viết năm 1933). Đây là công trình đầu tiên tổng kết một cách hệ thống, khoa học về quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức Cộng sản tại Việt Nam. Bằng phương pháp luận Mác - Lênin nhuần nhuyễn, đồng chí đã tái hiện sinh động các cuộc đấu tranh của công - nông, phân tích sự ra đời của Đảng như một tất yếu lịch sử.

Ảnh đồng chí Hà Huy Tập (người ngồi ghế) chụp ở Quảng Trị
Điểm đặc sắc trong ngòi bút Hà Huy Tập là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lô-gích và lịch sử. Đồng chí không chỉ liệt kê sự kiện mà luôn đi sâu phân tích bản chất, rút ra những bài học xương máu về tổ chức và phương pháp đấu tranh. Cuốn sách đã trở thành tài liệu học tập vô giá, cẩm nang gối đầu giường của các chiến sĩ Cách mạng trong các nhà tù đế quốc, giúp họ giữ vững niềm tin vào ngày tận thế của chủ nghĩa thực dân.
Sắc bén trên mặt trận chống tư tưởng sai lệch
Một nhà lý luận giỏi không chỉ là người xây dựng hệ thống tư tưởng mới, mà còn phải là người bảo vệ kiên cường tính thuần khiết của lý luận ấy. Trong giai đoạn 1936 - 1938, khi phong trào dân chủ dâng cao, Cách mạng Việt Nam phải đối mặt với sự chống phá quyết liệt từ các trào lưu tư tưởng cơ hội, đặc biệt là nhóm Trốtkít.
Với bản lĩnh chính trị vững vàng, Tổng Bí thư Hà Huy Tập đã trực tiếp cầm bút chiến đấu. Tác phẩm "Trốtsky và phản cách mạng" (tháng 5/1937) cùng hàng loạt bài viết trên các báo La Lutte (Tranh đấu), Le Peuple (Dân chúng) là những đòn giáng mạnh mẽ vào những kẻ giả danh Cách mạng. Bằng lập luận sắc bén, dẫn chứng đanh thép, đồng chí đã vạch trần bộ mặt thật của những phần tử cơ hội, bảo vệ sự thống nhất trong Đảng và giữ vững định hướng cho phong trào quần chúng.
Ngòi bút của đồng chí Hà Huy Tập thời kỳ này thể hiện một phong cách chính luận hiện đại: trực diện, quyết liệt nhưng cực kỳ khoa học. Đồng chí không ngại đối thoại, không ngại tranh luận để làm sáng tỏ chân lý. Chính sự sắc sảo ấy đã giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân phân biệt rõ bạn - thù, tạo nên sự đồng thuận cao độ trong Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
Tầm nhìn chiến lược về liên minh công - nông và mặt trận dân tộc
Không chỉ dừng lại ở đấu tranh tư tưởng, di sản lý luận của đồng chí Hà Huy Tập còn chứa đựng những tầm nhìn chiến lược về xây dựng lực lượng. Đồng chí đặc biệt coi trọng vai trò của liên minh công nông - cái gốc của Cách mạng. Qua các bài viết như "Đảng Cộng sản Đông Dương đứng trước chủ nghĩa cải lương quốc gia" hay các báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, đồng chí khẳng định: Đảng phải là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhưng đồng thời phải bám rễ sâu trong lòng quần chúng nông dân.

Đồng chí Hà Huy Tập (1906 - 1941)
Đặc biệt, trong giai đoạn làm Tổng Bí thư, đồng chí đã cụ thể hóa chiến lược lập Mặt trận Nhân dân phản đế (sau là Mặt trận Dân chủ Đông Dương). Đây là một tư duy lý luận linh hoạt, biết đặt lợi ích dân tộc và mục tiêu dân sinh, dân chủ lên hàng đầu để tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp Nhân dân. Đồng chí Hà Huy Tập cho rằng, để Cách mạng thắng lợi, Đảng phải nắm giữ ngọn cờ lãnh đạo nhưng phải biết đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn.
Tầm nhìn này của đồng chí đã tạo ra cục diện mới cho Cách mạng Việt Nam thời bấy giờ: chuyển từ hoạt động bí mật sang kết hợp công khai, nửa công khai; từ đấu tranh bạo động sang đấu tranh chính trị rộng khắp. Đây chính là bước chuẩn bị quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn để Đảng ta tiến tới những quyết sách lịch sử trong những năm 1940 - 1945.
Di sản còn mãi với thời gian
Hơn 90 năm đã trôi qua kể từ khi những dòng chữ đầu tiên của Hồng Thế Công ra đời, nhưng khi đọc lại các tác phẩm của đồng chí Hà Huy Tập, chúng ta vẫn thấy rạo rực không khí Cách mạng và hơi thở của thời đại. Đó là một di sản văn hóa, chính trị đồ sộ gồm hơn 20 tác phẩm và hàng chục bài viết sắc sảo, được viết bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp.
Dù trong điều kiện hoạt động bí mật cực kỳ khó khăn, thường xuyên bị kẻ thù truy quét, nhưng với ý thức trách nhiệm cao cả của một lãnh tụ, đồng chí vẫn tranh thủ từng phút giây để viết, để tổng kết, để truyền bá lý luận. Đồng chí Hà Huy Tập quan niệm rằng: "Thực tiễn đấu tranh Cách mạng nhất định phải được tổng kết bằng lý luận Cách mạng. Nếu không tổng kết, kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng sẽ không được bổ sung phong phú”.
Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của đồng chí Hà Huy Tập, lật lại từng trang bản thảo cũ, chúng ta không chỉ khâm phục một trí tuệ siêu việt mà còn cảm nhận được trái tim nóng hổi của một người Cộng sản hết lòng vì nước, vì dân. Những di sản tư tưởng của Tổng Bí thư Hà Huy Tập sẽ mãi là nguồn tư liệu quý báu, là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ cán bộ, đảng viên trên con đường bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới.
(Còn tiếp)
(CATP) Trong lịch sử vẻ vang của Đảng ta, đồng chí Hà Huy Tập hiện thân là một trí thức uyên bác, một chiến sĩ Cộng sản sẵn sàng dấn thân vào nơi đầu sóng ngọn gió. Ở tuổi 30, trên cương vị Tổng Bí thư trong giai đoạn Cách mạng ngặt nghèo nhất, đồng chí đã thể hiện bản lĩnh của một nhà lãnh đạo thiên tài khi khôi phục hệ thống tổ chức Đảng từ tro tàn của khủng bố trắng, đồng thời đặt những viên gạch lý luận đầu tiên cho tiến trình Cách mạng Việt Nam.