Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975 - Biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng:

Bài 5: Thế trận quyết chiến trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Thứ Năm, 23/04/2026 10:28

|

(CATP) Từ ngày 20/4/1975, lịch sử dân tộc Việt Nam bước vào những trang kịch tính nhất khi 5 quân đoàn binh chủng hợp thành, phối hợp cùng lực lượng vũ trang Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ với tổng quân số lên tới 27 vạn người, đã áp sát nội đô Sài Gòn. Trong vòng vây siết chặt từ khoảng cách chưa đầy 50km, một bộ phận lực lượng đặc công đã bí mật thâm nhập các mục tiêu chiến lược. Hậu thuẫn cho sức mạnh tấn công ấy là đội ngũ hậu cần hùng hậu 18 vạn người, bảo đảm nguồn lực vũ khí và lương thực khổng lồ cho một trận quyết chiến không thể đảo ngược.

Năm hướng tiến công và kế hoạch đánh chiếm các cơ quan đầu não

Tại nội thành Sài Gòn, tinh thần quần chúng Nhân dân được đẩy lên cao độ. Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã triển khai hàng vạn truyền đơn, thành lập các đội tuyên truyền xung phong, huy động hàng trăm phương tiện sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền. Ngày 22/4/1975, kế hoạch tác chiến cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức được phê duyệt với mục tiêu nhất quán: Đánh nhanh, đánh dứt điểm, tiêu diệt toàn bộ quân địch và bảo vệ vẹn toàn hạ tầng Thành phố.

Cuộc tổng công kích được thiết kế đồng thời từ 5 hướng: Tây Bắc, Đông Bắc, Đông, Đông Nam và Tây - Tây Nam. Trọng tâm của chiến dịch là chia cắt, không cho địch co cụm ở nội thành, đánh chiếm các cầu lớn để mở đường cho đại quân đột kích vào 5 mục tiêu trọng yếu nhất.

Mục tiêu số một là Dinh Độc Lập. Từ hướng Đông Nam, Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) với sự hỗ trợ của pháo binh tại Nhơn Trạch đã khống chế sân bay Tân Sơn Nhất, đồng thời đánh chiếm quận 9, quận 4 để tiến thẳng vào trung tâm. Cùng lúc, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) từ hướng Đông chọc thủng phòng tuyến Biên Hòa - Hố Nai, tấn công trực diện vào quận 1, 2, 3 và các cơ quan như Bộ Quốc phòng, Đài Phát thanh.

Quân Giải phóng tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất

Tại hướng Bắc, Bộ Tổng tham mưu là mục tiêu của Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng). Được tăng cường xe tăng và pháo tự hành, đơn vị này phối hợp cùng lực lượng địa phương Bình Dương, Bình Phước đánh chiếm Gò Vấp, Bình Thạnh trước khi hội quân tại Dinh Độc Lập. Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) đảm nhận tiêu diệt Sân bay Tân Sơn Nhất, giải phóng Tân Bình và Phú Nhuận.

Hướng Tây Nam, Đoàn 232 phối hợp với Sư đoàn 8 tập trung tiêu diệt Biệt khu thủ đô. Một bộ phận khác của đoàn này đánh chiếm cầu Nhị Thiên Đường, tấn công Tổng nha cảnh sát, làm chủ các quận 5, 6, 8, 10, 11 và huyện Bình Chánh. Tất cả các mũi nhọn đều có một đích đến cuối cùng: Hợp điểm tại Dinh Độc Lập để kết thúc chiến tranh.

Diễn biến phức tạp trên bàn cờ chính trị và thế cờ tàn của chính quyền Sài Gòn

Trong khi Quân Giải Phóng áp sát, sân khấu chính trị Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Dưới sức ép của Mỹ, ngày 26/4, Trần Văn Hương từ chức. Dương Văn Minh lên nắm quyền vào đêm 27/4 với hy vọng mong manh về một cuộc thương lượng. Trong khi các nhân vật mới như Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền cố gắng dàn dựng một vở kịch hòa hoãn để hạn chế thắng lợi của Cách mạng, thì trên thực tế, quân đội Sài Gòn vẫn được lệnh không buông vũ khí.

Yếu tố quốc tế cũng đan xen phức tạp khi Pháp và một số nước khác đưa ra các lời kêu gọi ngừng bắn nhằm gây ảnh hưởng khu vực. Tuy nhiên, tình thế lịch sử đòi hỏi một hành động quyết đoán và kịp thời. Đến ngày 24/4, 10 sư đoàn chủ lực của ta đã hoàn tất tập kết. Đúng 17 giờ ngày 26/4/1975, cuộc Tổng công kích chính thức bắt đầu.

Trên bầu trời, chiều 28/4, phi đội A-37 do các chiến sĩ Không quân Việt Nam điều khiển dội bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy nhiều máy bay địch. Đòn đánh này không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn giáng một đòn chí tử vào tâm lý đối phương, buộc Mỹ phải thực hiện di tản khẩn cấp nhân viên quân sự và dân sự. Hàng loạt tướng lĩnh cao cấp của Sài Gòn như Cao Văn Viên, Nguyễn Bá Cẩn tháo chạy ra nước ngoài. Tại mặt trận, nhiều sư trưởng địch như Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai tự sát, Lý Tòng Bá bị bắt, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của bộ máy quân sự bù nhìn.

Ngày 28/4/1975, Bộ Chính trị gửi điện "nhiệt liệt khen ngợi toàn thể các đơn vị lập được những chiến công lớn trong những ngày qua" và kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thanh niên nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh của một quân đội trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sức đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định.

Lực lượng xe tăng và bộ binh ta đánh chiếm căn cứ quân sự Đồng Dù (Củ Chi) ngày 29/4, mở cánh cửa thép phía Tây Bắc Sài Gòn để quân ta tiến sâu vào nội đô

Trong ngày 27 và 28/4/1975, từ các hướng, ta tấn công dồn dập. Ở hướng Đông, mũi Sư đoàn 325, Trung đoàn 46 dẫn đầu đội hình tiến quân theo đường từ Long Thành vào Nhơn Trạch, liên tiếp tiêu diệt các cụm phòng ngự và phản kích của địch, làm chủ quận, lỵ Nhơn Trạch, tạo điều kiện cho pháo binh Quân đoàn vào chiếm lĩnh trận địa bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất.

Ở hướng Bắc, được sự chi viện của pháo cối, một bộ phận Trung đoàn 27 Sư đoàn 320B tiến công địch ở khu vực dốc Bà Nghĩa. Sau 3 giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, khống chế đoạn đường từ dốc Bà Nghĩa về Bình Cơ. Sau đó, đơn vị tiếp tục luồn về Lái Thiêu. Ngày 27 và 28/4/1975, Trung đoàn 113 đặc công cùng với một tiểu đoàn của Trung đoàn Gia Định chiếm cầu Bình Phước, làm chủ xa lộ Đại Hàn đoạn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre; Trung đoàn 116 chiếm cầu xa lộ Biên Hòa.

Hướng Tây và Tây Nam, chiều 28/4/1975, pháo binh chiến dịch của ta bắn phá làm tê liệt sân bay Biên Hòa. Các đơn vị của Đoàn 232 tiến công vào tuyến phòng thủ trực tiếp thành phố Sài Gòn, đánh chiếm một số mục tiêu, cắt mọi đường giao thông thủy, bộ, triệt để cô lập Sài Gòn. Sư đoàn 5 cắt đứt hoàn toàn Quốc lộ 4 đoạn từ Bến Lức đến Long An.

Đến cuối ngày 28/4/1975, Sư đoàn 9 bộ binh và một số đơn vị binh khí kỹ thuật đã vượt sông Vàm Cỏ Đông vào vị trí tập kết tại Bầu Cong, Mỹ Hạnh và Đức Hòa. Các trung đoàn 24 và 88 đánh chiếm các căn cứ mở rộng khu vực đứng chân phía bắc Cần Giuộc và làm chủ Đường số 5, chuẩn bị tiến vào Nam Sài Gòn. Hướng Tây Bắc, 9 giờ sáng 28/4/1975, Trung đoàn 174 Sư đoàn 316 đánh tan 1 tiểu đoàn địch từ Đồng Dù, Củ Chi lên giải tỏa cho Phước Mỹ, Trung Hưng. Đêm 28/4/1975, theo đúng kế hoạch hiệp đồng, các chiến sĩ Trung đoàn đặc công 198 và Trung đoàn 64 Sư đoàn 10 nhanh chóng tiến về cầu Bông, cầu Sáng, chiếm lĩnh trận địa bí mật, an toàn, đúng thời gian quy định.

Về phía địch, chiều 28/4/1975, trước sức tiến công của bộ binh và sự chi viện hiệu quả tích cực của pháo binh ta, địch phải di tản máy bay ở sân bay Biên Hòa về sân bay Tân Sơn Nhất, sở chỉ huy Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa bỏ Biên Hòa chạy về Gò Vấp.

Đêm 28/4/1975, Phòng quân báo Miền, theo dõi sát thông tin của địch thông báo về Bộ Chỉ huy chiến dịch hai tin quan trọng: Trong đêm, Bộ Tổng tham mưu Việt Nam Cộng hòa đã không còn giữ được liên lạc với Quân đoàn 3 và các sư đoàn quân Việt Nam Cộng hòa nữa. Cũng trong đêm 28/4/1975, Dương Văn Minh chỉ thị cho trung tâm thông tin Quán Tre cố gắng duy trì hoạt động đến 9 giờ 30 phút sáng 30/4.

Mười hai giờ đồng hồ lịch sử

Ngay trong đêm 28/4/1975, sau khi thông báo tình hình chung toàn mặt trận, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho toàn mặt trận tổng tiến công vào Sài Gòn sáng 29/4. Sáng 29/4/1975, quân ta mở đợt tiến công tiêu diệt phần lớn các sư đoàn chủ lực vòng ngoài của địch. Trước nguy cơ bị xóa sổ, Dương Văn Minh tìm cách liên hệ xin ngừng bắn để điều đình. Tuy nhiên, với lập trường kiên định, phía Cách mạng bác bỏ mọi yêu cầu thương thuyết, khẳng định: Người Mỹ phải rút hết, chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện.

Lúc 10 giờ ngày 29/4, Bộ Chính trị ra chỉ thị lịch sử: Tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, đập tan mọi sự kháng cự. Một bước ngoặt quan trọng đã xảy ra khi Trung tướng Lê Trọng Tấn đề nghị cho cánh quân phía Đông nổ súng sớm hơn dự định. Được sự nhất trí của Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, hướng Đông đã bắt đầu đánh vào nội đô từ 18 giờ ngày 29/4, sớm hơn kế hoạch chung 12 giờ.

Quyết định táo bạo này đã tạo ra hiệu ứng dây chuyền. Quân đoàn 2 nhanh chóng vượt sông Đồng Nai, quét sạch các ổ đề kháng tại Thủ Đức và cầu Rạch Chiếc, tiến thẳng vào trung tâm hành chính của địch. Sự kết hợp giữa sức mạnh quân sự áp đảo và tính toán chiến lược sắc bén đã tạo nên một cường độ tấn công không thể cản phá. Giờ G của lịch sử đã điểm, mọi con đường đều dẫn về Dinh Độc Lập, đánh dấu sự hội tụ của ý chí dân tộc và thiên tài quân sự Việt Nam trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng.

Bài 4: Trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất - lấy vũ khí địch đánh địch
 

Bình luận (0)

Lên đầu trang