Buôn Mê Thuột - nghệ thuật chọn tử huyệt của đối phương
Cuối năm 1974, cục diện chiến trường Miền Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ, các lực lượng Cách mạng Miền Nam liên tiếp giành được nhiều thắng lợi, thế và lực của ngụy quân, ngụy quyền ngày càng suy yếu. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị đã họp và nhận định tình hình, thời cơ chiến lược mới, từ đó hạ quyết tâm giải phóng Miền Nam trong 2 năm 1975 đến 1976, chọn Tây Nguyên làm hướng tấn công chủ yếu trong năm 1975 và quyết định lấy Buôn Mê Thuột làm mục tiêu của chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.
Tại sao lại là Buôn Mê Thuột? Trong tư duy chiến lược của Đảng và Quân đội ta, Tây Nguyên luôn được xác định là "mái nhà” của Miền Nam, là địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất mà bất cứ bên nào làm chủ được cũng sẽ nắm giữ lợi thế sinh tử trên chiến trường. Chính quyền Sài Gòn đã dày công xây dựng nơi đây thành một căn cứ quân sự khổng lồ nhằm đè bẹp phong trào Cách mạng và ngăn chặn sự chi viện của ta từ hậu phương lớn Miền Bắc.
Buôn Mê Thuột là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk và cũng là thị xã đầu tiên của Tây Nguyên. Đây là một đô thị có giá trị chiến lược không những đối với Tây Nguyên mà cả Miền Nam. Do đó, việc lấy Buôn Mê Thuột làm mục tiêu quyết chiến trong mùa Xuân 1975 có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng. Giải phóng Buôn Mê Thuột sẽ tạo ra bàn đạp giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, đồng bằng ven biển Miền Trung, mở ra hướng tiến công quan trọng vào Sài Gòn.

Đại tướng Văn Tiến Dũng (người ngồi giữa) tại Sở chỉ huy mặt trận giải phóng Tây Nguyên tháng 3/1975
Tuy nhiên, qua phân tích sắc sảo và nắm bắt thực địa, quân ta nhận thấy địch bố trí lực lượng mạnh ở phía Bắc (Kon Tum, Pleiku) nhưng khu vực phía Nam, đặc biệt là Buôn Mê Thuột, lại sơ hở và mỏng hơn do chúng chủ quan coi đây là vùng hậu cứ an toàn. Cố Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo, nguyên Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên đã đúc kết một nguyên lý kinh điển: "Nguyên tắc chọn hướng chiến lược là đánh vào nơi hiểm yếu nhưng địch yếu, nơi có thể phá vỡ thế chiến lược và dễ phát triển chiến lược".
Buôn Mê Thuột chính là điểm nút ấy. Một khi mất Buôn Mê Thuột, toàn bộ hệ thống phòng ngự của quân đội Sài Gòn tại Tây Nguyên sẽ bị cắt làm đôi, tạo thành một lỗ hổng không thể lấp đầy, nối liền vùng giải phóng của ta từ Tây Nguyên xuống miền Đông Nam Bộ, áp sát tận cửa ngõ Sài Gòn.
Cuộc nghi binh hoàn hảo nhất lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Chiến dịch Tây Nguyên mang mật danh "Chiến dịch 275" là một minh chứng rực rỡ cho nghệ thuật nghi binh "điệu hổ ly sơn". Trong các báo cáo sau này, giới quân sự quốc tế và cả những tướng lĩnh phía bên kia chiến tuyến đều phải ngả mũ trước sự mưu lược của quân đội ta. Đại tá, TS Vũ Tang Bồng đánh giá đây là "cuộc nghi binh hoàn hảo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước", khi ta giữ được bí mật tuyệt đối đến tận giờ G, khiến quân đội chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị mù quáng về mục tiêu tấn công thực sự.
Để dọn đường cho đòn đánh vào Buôn Mê Thuột, ta đã thực hiện một vở kịch chiến trường quy mô lớn. Quân ta triển khai các hoạt động tiến công giả, nghi binh rầm rộ tại Pleiku và Kon Tum bằng cách liên tục đánh phá các cứ điểm ngoại vi, di chuyển xe pháo tạo tiếng động và sử dụng các mạng vô tuyến điện giả, làm giả sự xuất hiện của các sư đoàn chủ lực ở phía Bắc. Địch hoàn toàn "cắn câu", dồn toàn bộ sự chú ý và những đơn vị tinh nhuệ nhất của Quân đoàn 2 Sài Gòn về phía Bắc để tử thủ Pleiku. Trong khi kẻ thù mải mê canh giữ "vỏ quế" ở phía Bắc, các quả đấm thép của ta gồm Sư đoàn 316, 10, 320A đã bí mật hành quân xuyên rừng, áp sát tử huyệt Buôn Mê Thuột trong tư thế sẵn sàng khai hỏa.
Trận Buôn Mê Thuột không chỉ là cuộc đấu trí mà còn là cuộc đấu lực đỉnh cao. Ngày 04/3/1975, chiến dịch chính thức nổ súng bằng các trận đánh tạo thế. Ta cắt đứt các trục lộ giao thông huyết mạch như đường 19, đường 21, thực hiện "vây điểm diệt viện", cô lập hoàn toàn Tây Nguyên với vùng duyên hải. Đúng trưa ngày 10/3, khi "cửa" đã khóa và "nhà” đã bị cô lập, đại quân ta tung đòn quyết định.

Quân Giải phóng tham gia đánh chiếm sân bay Buôn Ma Thuột tháng 3/1975
Sức mạnh hiệp đồng binh chủng bão táp gồm xe tăng, pháo binh và các sư đoàn chủ lực tinh nhuệ đã dội bão lửa vào thị xã. Trung đoàn đặc công 198 nổ súng mở màn, táo bạo đánh chiếm sân bay Hòa Bình và các kho tàng trung tâm. Tiếp đó, bộ binh hiệp đồng cùng xe tăng thiết giáp 273 chọc thủng các tuyến phòng thủ thép, thọc sâu vào trung tâm chỉ huy của Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn. Đại tướng Văn Tiến Dũng, người trực tiếp chỉ đạo chiến dịch đã nhấn mạnh trong hồi ký: "Sức mạnh của quân ta như thác đổ, không một công sự hay hỏa lực nào của quân đội Sài Gòn có thể ngăn cản được". Chỉ trong vòng chưa đầy 24 giờ, một thủ phủ quân sự kiên cố bậc nhất đã sụp đổ, đánh dấu một ngày đen tối đối với bộ máy chỉ huy quân đội Sài Gòn.
Sự sụp đổ dây chuyền và bước ngoặt thay đổi vận mệnh dân tộc
Đòn điểm huyệt trúng đích tại Buôn Mê Thuột đã gây ra một cú sốc tâm lý cực lớn, làm rối loạn toàn bộ hệ thống chỉ đạo chiến lược của địch từ Sài Gòn đến các quân đoàn. Trong cơn hoảng loạn tột độ, Nguyễn Văn Thiệu và bộ chỉ huy quân đội Sài Gòn đã phạm phải một sai lầm chết người: Ra lệnh rút bỏ toàn bộ quân lực tại Kon Tum và Pleiku để co cụm về giữ vùng duyên hải Trung Bộ theo chiến thuật "tỉa cành giữ gốc".
Tuy nhiên, cuộc rút chạy đã biến thành một cuộc thảm bại kinh hoàng nhất trong lịch sử quân đội Sài Gòn. Từ ngày 17 đến 24/3, quân ta thực hiện cuộc truy kích thần tốc trên Đường số 7 (trục Cheo Reo - Phú Bổn). Những hình ảnh thê thảm về máy bay rơi, đại pháo bị bỏ lại và hàng nghìn xe quân sự nằm tan tác dọc đường là minh chứng cho sự tan rã của Quân đoàn 2 Sài Gòn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận định: "Thắng lợi ở Tây Nguyên đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện chiến tranh, đẩy quân đội Sài Gòn vào con đường sụp đổ không gì cứu vãn nổi".
Đến ngày 24/3/1975, chiến dịch Tây Nguyên chính thức thắng lợi hoàn toàn. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã một quân đoàn tinh nhuệ của địch, giải phóng 5 tỉnh rộng lớn gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức cùng hơn 60 vạn đồng bào các dân tộc. Đây không chỉ là sự thay đổi về bản đồ hành chính mà là sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng trên toàn Miền Nam.

Quân Giải phóng đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 23 của quân đội Việt Nam Cộng hòa tại Buôn Mê Thuột tháng 3/1975
Trong cuốn sách "Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng," cố Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo viết: "Chiến thắng Buôn Mê Thuột đã giáng đòn điểm huyệt choáng váng, buộc quân địch phải rút bỏ Tây Nguyên, lực lượng tàn quân tháo chạy cũng bị tiêu diệt gọn. Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã tạo sức mạnh toàn diện mới. Điều quan trọng là nó đã tạo ra sự thay đổi cơ bản về tinh thần, tư tưởng, về so sánh lực lượng, về thế chiến lược giữa ta và địch".
Chiến thắng này là cơ sở thực tiễn quan trọng nhất để Bộ Chính trị kịp thời điều chỉnh quyết tâm chiến lược: Quyết định giải phóng hoàn toàn Miền Nam ngay trong mùa Xuân năm 1975 thay vì kế hoạch 2 năm như dự kiến ban đầu. Nếu Buôn Mê Thuột là ngòi nổ, thì giải phóng Tây Nguyên chính là bàn đạp khổng lồ để quân ta thực hiện các chiến dịch Huế - Đà Nẵng và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Miền Nam, tạo thế, tạo lực thuận lợi chưa từng có trong lịch sử kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, trực tiếp mở đường đi đến Ngày toàn thắng (30/4/1975).
Hào khí Tây Nguyên mùa Xuân 1975 là minh chứng rạng ngời cho trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và tinh thần đoàn kết đại dân tộc. Đó là thắng lợi của sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ đội chủ lực và Nhân dân địa phương các dân tộc Ê-đê, Mnông, Gia-rai, Ba-na..., những người con của núi rừng luôn một lòng sắt son theo Đảng và Bác Hồ.
51 năm sau ngày giải phóng, địa danh Buôn Mê Thuột nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung đã không ngừng "thay da đổi thịt", vươn mình phát triển thông qua việc đổi mới mạnh mẽ, tận dụng tiềm năng đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội bền vững cùng cả nước.
(CATP) Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang và các tỉnh ven biển Miền Trung, Phan Rang bỗng chốc trở thành tử huyệt quân sự - nơi chính quyền Sài Gòn dồn những quân bài cuối cùng vào canh bạc tuyệt vọng nhằm thiết lập một phòng tuyến tử thủ từ xa. Trong kế hoạch phòng thủ "Nỗ lực tối đa" của quân đội Sài Gòn, Phan Rang trở thành lá chắn phía Đông để ngăn chặn cánh quân duyên hải của Quân Giải phóng, hỗ trợ phòng ngự cho cụm cứ điểm Xuân Lộc và che chở từ xa cho Sài Gòn. Chiến thắng ngày 16/4 tại Phan Rang của ta không chỉ là một thắng lợi về mặt địa lý, mà còn là "nhát búa thép" đập tan ý chí kháng cự cuối cùng của địch, mở toang cánh cửa phía Đông để đại quân ta thần tốc tiến về giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.