Sáng 24/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra hai dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Các dự thảo tập trung cải cách thủ tục, tăng cường hậu kiểm, đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng không gian biển.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về hai dự án luật.
Cắt giảm thủ tục, tăng cường hậu kiểm
Theo Tờ trình số 702/TTr-CP ngày 17/9/2026, sau hơn 5 năm thi hành, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng nhưng một số mục tiêu chưa đạt; nhiều quy định còn cứng nhắc, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, tái chế, tái sử dụng chất thải và bảo vệ môi trường.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường tập trung điều chỉnh các thủ tục đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường và đăng ký môi trường. Theo đó, số nhóm tiêu chí môi trường dự kiến giảm từ 3 xuống 2, số nhóm phân loại dự án từ 4 xuống 3; thu hẹp đối tượng phải đánh giá tác động môi trường, bổ sung trường hợp được miễn và chuyển một số đối tượng sang thực hiện đăng ký môi trường.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về hai dự án Luật - Ảnh: VGP
Dự thảo cũng đề xuất giảm số đối tượng phải có giấy phép môi trường, đơn giản hóa hồ sơ, kéo dài thời hạn giấy phép với một số trường hợp và phân quyền cấp phép cho địa phương. Phương thức quản lý được điều chỉnh theo hướng giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, gắn với chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Cùng với đó, trách nhiệm của chủ dự án, cơ sở và tổ chức tư vấn môi trường được làm rõ.
Theo Tờ trình, các nội dung cải cách đã thực hiện giúp bãi bỏ 9 thủ tục hành chính, giảm 52,5% thời gian và 52,3% chi phí tuân thủ. Riêng dự thảo luật lần này tiếp tục cắt giảm 5 thủ tục, sửa đổi, bổ sung 3 thủ tục; 2 thủ tục khác dự kiến được cắt giảm tại nghị định.
Quản lý chất thải cũng là nội dung được sửa đổi. Dự thảo yêu cầu cập nhật dữ liệu về phát sinh, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải, sử dụng chứng từ, biên bản giao nhận điện tử; đồng thời điều chỉnh trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu nhằm thúc đẩy thu gom và tái chế thực chất.
Để nâng cao chất lượng môi trường, dự thảo bổ sung quy định về dự báo ô nhiễm không khí, kiểm kê khí thải, vùng phát thải thấp và trách nhiệm của địa phương trong điều tiết phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng không gian biển
Đối với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Tờ trình nêu rõ yêu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng không gian biển, xác lập quyền sử dụng khu vực biển, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tạo điều kiện phát triển kinh tế biển xanh, bền vững.
Sau 10 năm thi hành, Luật năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Tuy nhiên, một số quy định chưa theo kịp yêu cầu thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia, chuyển đổi số và phát triển các ngành kinh tế biển mới. Cơ chế phân bổ, điều phối, giải quyết chồng lấn trong sử dụng không gian biển còn bất cập; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển chưa được quy định đầy đủ.
Dự thảo gồm 6 chương, 76 điều, bổ sung chương về quản lý, sử dụng không gian biển. Trong đó, các cơ chế giao, cho thuê, đăng ký và đấu giá quyền sử dụng khu vực biển được hoàn thiện; quy định về giấy chứng nhận, hồ sơ hải chính, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng biển cũng được bổ sung, cùng với cơ chế giải quyết chồng lấn, xung đột và phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển.
Một điểm mới đáng chú ý là đề xuất đấu giá quyền sử dụng khu vực biển để tăng tính công khai, minh bạch và cạnh tranh. Tổ chức, cá nhân tham gia phải đáp ứng các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, công nghệ, kỹ thuật, tài chính, môi trường và điều kiện chuyên ngành. Kết quả đấu giá chỉ là căn cứ để giao hoặc cho thuê khu vực biển, không thay thế thủ tục đầu tư, xây dựng, môi trường, quốc phòng, an ninh và các thủ tục chuyên ngành khác.
Dự thảo còn bổ sung chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển kinh tế biển, hải đảo, ưu tiên các ngành hiện đại, xanh, thông minh, công nghệ cao, cùng hạ tầng dùng chung, công trình lưỡng dụng, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và tài chính biển xanh.
Cùng với việc duy trì 4 thủ tục hành chính hiện hành, dự thảo bổ sung 8 thủ tục gắn với cơ chế mới và nghĩa vụ quốc tế, đồng thời đẩy mạnh tích hợp, liên thông, số hóa. Tổ chức, cá nhân nước ngoài đã có giấy phép nghiên cứu khoa học biển hoặc nhận chìm ở biển không phải thực hiện thêm thủ tục giao khu vực biển. Khi khu vực biển bị thu hồi, giấy chứng nhận liên quan cũng được thu hồi.
Dự thảo tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương, trong khi Trung ương tập trung giải quyết các vấn đề chiến lược, liên ngành, liên vùng, khu vực ngoài ranh giới quản lý hành chính trên biển của cấp tỉnh, hoạt động có yếu tố nước ngoài và những vấn đề liên quan quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ quyền.
Làm rõ thẩm quyền, bảo đảm hiệu quả quản lý
Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết Ủy ban cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phân định rõ thẩm quyền và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Theo cơ quan thẩm tra, quản lý tổng hợp không gian biển phải bảo đảm điều phối liên ngành nhưng không thay thế thẩm quyền quản lý chuyên ngành. Do đó, dự thảo cần làm rõ vai trò, trách nhiệm của Chính phủ, cơ quan quản lý tổng hợp về biển và các bộ chuyên ngành; xác lập tiêu chí công khai, minh bạch để xử lý xung đột giữa quy hoạch, dự án và các vấn đề liên vùng, liên ngành, gắn với trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát.
Ủy ban cũng đề nghị làm rõ vai trò định hướng của Quy hoạch không gian biển quốc gia, ranh giới giữa quản lý tổng hợp và quản lý chuyên ngành, trách nhiệm phối hợp, chia sẻ dữ liệu và chuẩn hóa cơ sở dữ liệu quốc gia. Hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp cần kết nối với hệ thống chuyên ngành hiện có để tránh đầu tư chồng chéo. Hoạt động nghiên cứu khoa học biển phải được phân biệt với khảo sát phục vụ đầu tư, kinh doanh.
Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Ủy ban cơ bản tán thành mục tiêu thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển các-bon thấp và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Cơ quan thẩm tra đánh giá cao đề xuất giảm khoảng 90% đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, phải có giấy phép môi trường và đẩy mạnh phân cấp cho UBND cấp tỉnh, cấp xã.
Tuy nhiên, việc cắt giảm thủ tục phải đi đôi với tăng cường giám sát từ Trung ương, nâng cao năng lực hậu kiểm và làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu địa phương khi để xảy ra ô nhiễm. Cơ quan thẩm tra đề nghị xác định thẩm quyền Trung ương đối với các vấn đề có tác động liên tỉnh, xuyên biên giới hoặc thuộc vùng biển ngoài phạm vi quản lý hành chính của một địa phương.
Để hạn chế việc áp dụng pháp luật tùy nghi, Ủy ban đề nghị lượng hóa các tiêu chí về đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và chứng nhận Nhãn sinh thái.
Ủy ban đồng thời kiến nghị thể chế hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, dịch vụ và mô hình kinh doanh xanh, tuần hoàn mới; cụ thể hóa yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.