Biến khám đường thành học đường
Ngày 18/4/1946, ba chiến hạm Pháp đã đổ bộ 2 đại đội bộ binh lên chiếm lại Côn Đảo, thiết lập lại chế độ nhà tù. Đại úy Gimbe trở thành Giám đốc quần đảo và Nhà tù Côn Đảo thứ 34 người Pháp. Gimbe có nhiệm vụ nhanh chóng khôi phục nhà tù Côn Đảo để giải tỏa số tù nhân kháng chiến đang đầy ắp ở Khám Lớn Sài Gòn.
Cuối tháng 5/1946, thực dân Pháp lưu đày chuyến tù nhân đầu tiên từ Khám Lớn Sài Gòn ra Côn Đảo gồm hơn 300 người. Tính đến ngày 31/12/1946, Nhà tù Côn Đảo có 784 tù nhân (Báo cáo số 774P ngày 08/02/1947). Học tập kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, từ năm 1947, tù nhân Côn Đảo đã thành lập Ban chấp hành tù nhân ở các khám, cử ra Ban trật tự, Ban xã hội, Ban bình dân học vụ và đại diện khám để điều hành mọi hoạt động tự quản trong khám, bảo vệ quyền lợi của tù nhân, đấu tranh chống chế độ lao tù hà khắc. Ban chấp hành tù nhân ở mỗi khám đều có một ủy viên phụ trách Bình dân học vụ để tổ chức và chỉ đạo phong trào xóa mù chữ trong tù.

Tranh thêu của nữ tù Côn Đảo
Nhờ có tổ chức, phong trào bình dân học vụ phát triển sôi nổi ở Côn Đảo trong những năm 1947 - 1948. Người học phần nhiều là tù thường phạm hoặc những người xuất thân là nông dân, dân nghèo thành thị, phu phen thất học mới tham gia kháng chiến. Các anh Trần Nhật Quang ở Nhà Thương; Phạm Gia, Nguyễn Ngọc Lân, Trần Đống ở Khám 1; Nguyễn Văn Mẹo ở Khám 3 (Banh I); Trần Văn Sử, Nguyễn Văn Giỏi ở sở rẫy An Hải, Nguyễn Sáng, Lưu Văn Lê ở sở Chỉ Tồn... đã có nhiều đóng góp cho phong trào xóa nạn mù chữ của tù nhân Côn Đảo. Anh Trần Nhật Quang từng bị địch tra tấn đến mù một con mắt vẫn cặm cụi thức khuya dưới ngọn đèn tù mù chép những bài tập đọc, chính tả cho anh em.
Tùy điều kiện khổ sai ở mỗi sở mà anh em bố trí thời gian học cho thích hợp. An Hải, Sở Củi, Lò Vôi thường học buổi trưa. Nhà bếp, Chỉ Tồn, Bản Chế học buổi tối. Tù tử hình phải còng chân thì bố trí thầy ngồi giữa, trò ngồi 2 bên. Khi muốn đổi thầy hay đổi trò thì phải chờ đến phiên đổi còng. Anh Gác, công nhân cao su ở miền Đông Nam Bộ nhờ được anh Lê Phú hướng dẫn tận tình trong mấy tháng ở Khám tử hình đã đọc thông, viết thạo và làm được cả 4 phép tính thông thường. Tên gác ngục Saden có lần thấy tù nhân khám tử hình học văn hóa đã giễu cợt:
- Các anh sắp chết rồi còn học làm gì?
Người tử tù Nguyễn Đình Chính đã trả lời:
- Nếu không chết thì sẽ thành người có ích. Còn nếu chết thì chúng tôi cũng phải chết một cách có văn hóa.
Năm 1949, Liên đoàn tù nhân Côn Đảo được thành lập, do ban chấp hành các khu (các khám) bầu ra. Ban chấp hành gồm: Tư Ba Đào là Chủ tịch, Trịnh Xuân Hà là Phó chủ tịch kiêm tổng đại diện, Trương Anh Tuấn là ủy viên phụ trách tuyên truyền, Lê Ngọc Hương là ủy viên phụ trách huấn học, Nguyễn Tiếp là ủy viên phụ trách công tác xã hội, Nguyễn Ngọc Sớm, ủy viên phụ trách giao thông liên lạc... Từ khi có Liên đoàn tù nhân Côn Đảo, phong trào Bình dân học vụ phát triển mạnh theo khẩu hiệu: "Biến khám đường thành học đường". Ban huấn học tích cực vận động mọi người học tập theo phương châm "Không để một ai ngồi không mà không học, không đọc".

Dù chân bị xiềng xích, các tù nhân vẫn dạy cho nhau học
Khám 6 (Banh I) có ông già Trị là tù thường phạm mù chữ. Khi còn làm khổ sai ở các sở ngoài, ông chú tâm tìm cách vượt ngục nên chẳng học được chữ nào. Vượt ngục không thành, bị đưa vào cấm cố, thấy mọi người say mê học ngày, học đêm, ông mới thèm khát được biết đọc, biết viết, có thể đọc được thư của gia đình như mọi người. Ông cặm cụi mài từng mẩu san hô thành viên phấn nhỏ, nắn nót viết từng nét chữ theo sự hướng dẫn của những người tù trẻ tuổi. Ba tháng sau, ông viết được thư về nhà. Khi nhận được thư hồi âm, ông rưng rưng đọc nhẩm từng chữ, xúc động như cảm nhận một điều kỳ diệu. Ông cười mà nước mắt dàn dụa, nói với anh em tù chính trị chỉ trạc tuổi con mình: "Tụi bây khá quá. Tao không ngờ ở với tụi bây lại sáng mắt ra".
Khám 6 có ông già Kim mù chữ, vốn là một người nghèo khổ, bị xã hội thực dân ngược đãi đến bần cùng, rồi trở thành tướng cướp. Ông lầm lì ít khi nói chuyện, chỉ nằm hút thuốc một mình, rất thờ ơ khi anh em vận động học chữ. Lý lẽ của ông là mấy chục năm nay không biết chữ mà vẫn sống được thôi. Cánh tù trẻ cứ theo ông thuyết phục hàng ngày. Rốt cuộc, nằm mãi một mình cũng chán, ông nhận lời học chữ nhưng thiếu kiên trì, thích thì học, chán thì bỏ, học trước quên sau, thầy nào gặp ông cũng chán, không ai dạy ông được quá một tuần. Ban huấn học phải nhiều lần động viên khuyến khích cả thầy lẫn trò, phân công những người có kinh nghiệm nhất phụ trách xóa mù chữ cho riêng ông. Vương Tự Kiên (bí danh "Lục Xịt") xung phong nhận dạy ông theo phương pháp mới. Anh được bố trí đến nằm cạnh ông, khi nào ông thích học thì dạy, lúc ông chán thì thôi ngay. Hằng ngày anh gần gũi ông, vừa năn nỉ vừa khích lệ. Thấy ông thèm thuốc, bần thần là anh đến Ban xã hội xin thuốc cho ông hút. Già Kim cảm mến Vương Tự Kiên, theo học được một thời gian dài, biết đọc, biết viết, mặc dù chữ rất xấu.
Xóa nạn mù chữ trong nhà tù
Cùng với việc học văn hóa, xóa mù chữ, tù nhân kháng chiến ở nhiều khám còn phát động phong trào "nói đúng tiếng Việt". Người ở nhiều địa phương tụ hội về, mang theo phong tục, phương ngữ khác nhau. Khu biệt lập Banh II phát động phong trào nói đúng tiếng Việt (quốc ngữ). Ai nói sai phải đứng nghiêm, sửa lại cho đúng theo hướng dẫn của người phát hiện, đồng thời phải đeo vào cổ một "thẻ đời sống mới" để làm dấu mỗi lần nói sai. Muốn bớt thẻ thì phải phát âm cho đúng, và phải bắt được người nói sai thì mới được chuyển thẻ. Tối về kiểm số thẻ mà phê bình hay khen ngợi. Cuộc vận động nói đúng tiếng Việt ở khu biệt lập đã giúp cho nhiều người có được độ chuẩn trong ngôn ngữ khi nói và viết, nâng cao ý thức về sự chuẩn mực và trong sáng của tiếng Việt.

Hình ảnh Trại 6, nhà tù Côn Đảo
Theo báo cáo của Liên đoàn tù nhân Côn Đảo, ông già Tiếu là người cuối cùng được thanh toán nạn mù chữ trong khu biệt lập Banh II vào cuối năm 1952. Ông bị mật thám Pháp đánh thành tật bàn tay phải. Kẹp mẩu gạch vào mấy ngón tay tàn tật viết không thành, ông chuyển sang tập viết bằng tay trái. Kiên trì và nhẫn nại trong một thời gian dài, mãi đến cuối năm 1952, ông mới viết được bức thư đầu tiên cho vợ. Dòng đầu tiên ông viết: "Má bầy nhỏ à, nhờ Cách mạng tôi đã biết đọc, biết viết thơ này gởi cho má nó”.
Sau khi được công nhận hoàn thành chương trình xóa mù chữ, các học viên được chuyển qua học chương trình phổ cập tiểu học, phân theo từng lớp phù hợp với trình độ học viên, có người phụ trách giảng dạy, có người kèm cặp, phụ đạo. Vào giờ học, Trật tự viên chia cho mỗi người một ô nhỏ trên sàn khám. Mỗi học viên giấu sẵn những mẩu san hô non, mẩu gạch mài đi làm phấn để viết chính tả, giải toán, làm văn, cặm cụi, từ đêm này qua đêm khác, ai sáng dạ thì từ 3 đến 5 tháng có thể học xong chương trình một lớp.
Sôi nổi nhất là những kỳ sát hạch, thi lên lớp hoặc chuyển cấp. Học viên làm bài thi ngay trên ô bảng của mình. Lưng trần bóng nhẫy mồ hôi, cặm cụi cho đến hết giờ khi trật tự viên ra hiệu lệnh hết giờ bằng chuông miệng "boong... boong!" thì tất cả ngưng làm bài. Người đạt điểm cao trong mỗi kỳ thi được nhận phần thưởng là bằng khen do Ban huấn học "cấp phát bằng miệng" trong chương trình phát thanh buổi tối trong khám.
Ở khu biệt lập thiếu thốn nhiều thứ, từ miếng cơm, ngọn rau, hạt muối, viên thuốc cho đến ánh sáng, khí trời; nhưng bù lại, anh em có thời gian, có sách, có thầy nên có điều kiện để học tập nâng cao. Mọi người tự giác học tập, theo nhu cầu, khát vọng và sở trường của mình. Thầy dạy là những người đã tốt nghiệp tú tài, cử nhân: Lê Trung Khá dạy toán, Trần Nhật Quang, Vũ Đắc Bằng dạy văn, Trần Bảo Trung dạy tiếng Bắc Kinh, Trịnh Văn Hà dạy kỹ thuật nông nghiệp...
Lớp toán tự học theo sách giáo khoa, bài tập tự làm là các đề thi tú tài ở các thành phố Lyon, Marseille, Toulouse, Alger, Bordeaux bên Pháp. Học hết sách, làm hết bài tập thì tổ chức thi và chấm cho nhau, tự phong bằng tú tài cho những người đỗ đạt.
Lớp kỹ thuật canh nông do kỹ sư Trịnh Văn Hà phụ trách học khá sôi nổi. Học viên ngồi vây quanh thầy, say sưa nghe trình bày từng chuyên mục về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, cách tổ chức một nông trang tập thể. Kỹ sư canh nông Lưu Văn Lê trong một thời gian ngắn ở biệt lập cũng đóng góp cho lớp học những kinh nghiệm thực tiễn của mình.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), lớp tù nhân kháng chiến cũng tổ chức nhiều lớp học lý luận chính trị, nâng cao giác ngộ và nhân cách cho những người tù kháng chiến. Song, thành tích xóa mù chữ và phổ cập cấp 1 là tiêu biểu hơn cả. Khi đình chiến (1954), toàn bộ 100% tù nhân đều được công nhận xóa mù chữ.
Nhiều người tự học đến trình độ tú tài trong tù, sau này được trao trả đã thi thẳng vào đại học, phục vụ trong những ngành kinh tế - xã hội và khoa học kỹ thuật của đất nước. Thầy toán Lê Trung Khá trở thành tiến sỹ khảo cổ học, Vương Tự Kiên trở thành bác sỹ, Trần Khắc Du - kỹ sư nông nghiệp, Nguyễn Trí Tuệ, Trần Y - kỹ sư giao thông, Nguyễn Ngọc Sớm - kỹ sư địa chất...
Sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam, Nguyễn Ngọc Sớm cùng đội quân địa chất vào triển khai công tác thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam, đặt nền móng cho ngành công nghiệp dầu khí non trẻ và đầy triển vọng của đất nước.
(CATP) Nhà tù Côn Đảo khi đó mới có 2 trại giam, gọi là Banh I và Banh II. Tù chính trị bị giam riêng ở Banh II, không phải đi làm khổ sai nên sớm có điều kiện tổ chức học tập. Nhờ sự giúp đỡ của binh lính, thủy thủ và những công chức tiến bộ, những người tù chính trị ở Côn Đảo đã mua được nhiều tác phẩm lý luận để học.
NGUYỄN ĐÌNH - ĐỖ MẠNH - HÀ CHÂU