Côn Đảo - trường học Cách mạng của dân tộc Việt Nam:

Kỳ 6: Lớp học Chủ nghĩa Mác - Lênin ở nhà tù Côn Đảo

Thứ Ba, 14/04/2026 14:32

|

(CATP) Nhà tù Côn Đảo khi đó mới có 2 trại giam, gọi là Banh I và Banh II. Tù chính trị bị giam riêng ở Banh II, không phải đi làm khổ sai nên sớm có điều kiện tổ chức học tập. Nhờ sự giúp đỡ của binh lính, thủy thủ và những công chức tiến bộ, những người tù chính trị ở Côn Đảo đã mua được nhiều tác phẩm lý luận để học.

Tổ chức dịch và biên soạn chương trình học

Giáo sư Trần Văn Giàu (1911 - 2010) là nhà cách mạng lão thành từng bị thực dân Pháp đày ra nhà tù Côn Đảo năm 1935. Tại "địa ngục trần gian" này, ông được mệnh danh là "Giáo sư Đỏ”, giữ vai trò nòng cốt trong các chi bộ Cộng sản, tổ chức lớp học lý luận chính trị và biên tập báo chí bí mật cho tù nhân. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước tại xã An Lạc Long (huyện Châu Thành, tỉnh Tân An cũ), năm 1926, khi vừa 15 tuổi, ông lên Sài Gòn học, tham gia phong trào để tang Phan Châu Trinh. Năm 1928, qua Pháp du học, ông tham gia biểu tình trước dinh Tổng thống Pháp (tháng 5/1930) đòi hủy án tử hình đối với các thủ lĩnh cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, ông bị bắt và bị trục xuất về Sài Gòn. Cái tên Trần Văn Giàu trở thành tâm điểm chú ý của mật thám Pháp. Cửa ngục Khám Lớn (Sài Gòn), Côn Đảo, Tà Lài (Biên Hòa) luôn mở cửa đón ông. Riêng Khám Lớn (Sài Gòn), ông vào ra không dưới 3 lần.

Ra tù, Trần Văn Giàu qua Pháp rồi đi Nga, học tại Trường Đại học Phương Đông ở Matxcơva. Năm 1933, ông trở về Sài Gòn và lại tiếp tục vào tù. Ông viết trong hồi ký: "Lần thứ hai tôi vào Khám năm 1933 vì tội vô gia cư”. Ra tù lần thứ 2, Trần Văn Giàu móc ráp với các đồng chí, lập lại Xứ ủy. Đầu tháng 02/1934, Xứ ủy Lâm thời do Trần Văn Giàu làm Bí thư.

Đồng chí Trần Văn Giàu tham gia biểu tình tại Paris (năm 1930) và bị Pháp trục xuất về nước

Năm 1935, chính quyền thực dân mở một đợt truy quét lớn trên toàn xứ Nam Kỳ, Trần Văn Giàu bị bắt cùng với 166 người khác, ông bị kết án 5 năm tù và 10 năm cấm lưu trú. Hồ sơ Khám Lớn (Sài Gòn) ghi: Số tù 6826 MPP Trần Văn Giàu; Nghề nghiệp: sinh viên. Bị tòa án Sài Gòn kết án 5 năm tù và 10 năm quản thúc ngày 25/6/1935 vì hoạt động lật đổ chính quyền. Tại Khám Lớn Sài Gòn, ông tổ chức một cuộc đấu tranh bằng hình thức tuyệt thực cuối tháng 7/1935, gửi yêu sách đến Giám đốc nhà tù. Sau đó, Thống đốc Nam Kỳ quyết định đày ông ra Côn Đảo, giam tại Banh I.

Nhà tù Côn Đảo khi đó mới có 2 trại giam, gọi là Banh I và Banh II. Banh II dành riêng để giam tù chính trị (Bị kết án chính trị như án cấm cố, án phát lưu...). Tù chính trị ở Banh II không phải đi làm khổ sai nên sớm có điều kiện tổ chức học tập. Nhờ sự giúp đỡ của binh lính, thủy thủ và những công chức tiến bộ, những người tù chính trị ở Côn Đảo đã mua được nhiều tác phẩm lý luận của Mác, Ăngghen và Lênin được Nhà xuất bản Xã hội của Đảng Cộng sản Pháp xuất bản lúc đó, như: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Tư bản, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Làm gì?, Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản, Hai sách lược của Đảng xã hội dân chủ, Nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, Những vấn đề của chủ nghĩa Lênin... và một số cuốn sách lý luận như: Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác của Pơlêkhanốp, Kinh tế chính trị học của Lapiđuýt. Tù chính trị Banh II tổ chức dịch và biên soạn chương trình học tập cho các đối tượng có trình độ khác nhau.

Các lớp học lý luận được tổ chức phù hợp với trình độ của từng đối tượng. Lớp học chính trị phổ cập nghiên cứu Chánh cương, Sách lược vắn tắt, Luận cương chính trị của Đảng. Các vấn đề cơ bản như Yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam, tính chất và nhiệm vụ cách mạng, động lực chủ yếu của cách mạng và sách lược đấu tranh được dành nhiều thời gian thảo luận.

Đồng chí Phan Đình Khải (tức Lê Đức Thọ) lúc bị bắt lần thứ 2 (tháng 9/1939) tại Sở Mật thám Nam Định

Lớp B (chương trình trung cấp), nghiên cứu Triết học và Kinh tế chính trị học. Một số cán bộ có trình độ lý luận, đã qua các lớp huấn luyện của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu hoặc tốt nghiệp Đại học Phương Đông (Liên Xô) về, được chỉ định làm giảng viên.

Lớp A (chương trình cao cấp) tập hợp những người có trình độ văn hóa, lý luận và ngoại ngữ, như Bùi Công Trừng, Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Hà Huy Giáp... Lớp học này không có giảng viên, mọi người cùng nhau nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin từ nguyên bản tiếng Pháp. Mỗi người đọc kỹ một tác phẩm hoặc từng phần tác phẩm rồi trình bày nội dung chủ yếu, trên cơ sở đó mọi người cùng thảo luận. Mỗi bài học còn được liên hệ với quá trình vận động cách mạng ở Việt Nam và rút ra những kinh nghiệm thực tiễn. Nguyễn Văn Cừ và Lê Duẩn thường có những ý kiến phân tích sâu và có sức thuyết phục khi tranh luận. Bùi Công Trừng tham gia thảo luận rất sôi nổi, có khi theo đối tượng vào tận nhà cầu để không bỏ dở cuộc tranh luận. Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc, tức Nguyễn Văn Linh) cũng là một tấm gương tiêu biểu về tinh thần học tập, phấn đấu vươn lên của tù chính trị. Khi vào tù, Mười Cúc mới 16 tuổi, nhờ say mê học tập, trong vòng 3 tháng đã tham gia dịch thuật các tác phẩm lý luận dưới sự hướng dẫn của Phạm Văn Đồng, Nguyễn Kim Cương.

Viết bài giảng trên nền xi măng

Banh I giam tù mang án khổ sai, trong đó có cả tù thường phạm và những người hoạt động chính trị nhưng bị kết án khổ sai. Năm 1932, Chi bộ đặc biệt được thành lập tại Banh I, do Nguyễn Hới làm Bí thư. Nguyễn Hới, Tôn Đức Thắng, Tống Văn Trân đã huấn luyện cho tù chính trị những vấn đề về tổ chức Đảng, về Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Đoàn thanh niên phản đế, cách tổ chức quần chúng...

Ngô Gia Tự bị đày ra Côn Đảo cuối năm 1933, cùng với Phạm Hùng, Lê Văn Lương được bổ sung vào chi ủy. Ngô Gia Tự làm Bí thư chi bộ sau khi Nguyễn Hới vượt ngục (1934). Ngô Gia Tự đã tổ chức cho anh em học tập các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Cộng sản, về đặc điểm giai cấp trong xã hội Việt Nam và đường lối, phương pháp lãnh đạo của Đảng. Bài giảng của Ngô Gia Tự thường ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, lý lẽ đơn giản mà thuyết phục được mọi người.

Giữa năm 1935, phong trào đấu tranh của tù chính trị phát triển mạnh, chúa ngục Côn Đảo ra lệnh cấm cố toàn bộ tù chính trị Banh I vào dãy khám 6-7-8-9-10. Chi ủy được chuyển sang khám 8-9, Tôn Đức Thắng là Bí thư sau khi Ngô Gia Tự vượt ngục và không trở về (1935), tham gia chi ủy có Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Phan Đình Khải (Lê Đức Thọ). Bộ ba Phạm Hùng, Lê Văn Lương và Tôn Đức Thắng hoạt động rất ăn ý, là trụ cột lãnh đạo của tù chính trị Banh I.

Đồng chí Lê Đức Thọ cùng các lãnh đạo Xứ ủy Nam bộ: Nguyễn Văn Kỉnh, Hà Huy Giáp, Ung Văn Khiêm, Phan Trọng Tuệ (năm 1950)

Giữa năm 1935, Võ Thúc Đồng, Nguyễn Duy Trinh từ nhà đày Buôn Ma Thuột chuyển ra Côn Đảo được mời tham gia chi ủy. Không phải đi làm khổ sai, Chi bộ đặc biệt quyết định tổ chức học tập lý luận một cách có hệ thống cho tù chính trị.

Tháng 7/1935, Trần Văn Giàu từ Khám Lớn Sài Gòn bị đày ra Côn Đảo. Biết Giàu là cây lý luận nổi tiếng, tốt nghiệp hạng ưu ở Đại học Phương Đông (Liên Xô) về, Phạm Hùng hội ý với Bác Tôn và Lê Văn Lương, chỉ định Trần Văn Giàu làm giảng viên chính.

Trần Văn Giàu thiết kế chương trình học tập lý luận theo hệ thống bài giảng của các giáo sư đỏ của Liên Xô và Quốc tế cộng sản mà ông đã "nằm lòng" khi theo học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô). Trong ngục tù, không có sách vở, bút mực, tài liệu tham khảo, Trần Văn Giàu ứng chiến một phương pháp mà ông gọi là giảng "tuồng bụng", theo cách mà ông đã trình bày trong một bài viết sau này:

"Ở Đại học Đông phương, các thầy dạy Chủ nghĩa Lênin thường không giảng bài trước. Đã có dàn bài tiết học và từng tiết mục, có trích đoạn của Mác, Ăngghen, Lênin, Xtalin, Quốc tế cộng sản, Đảng cộng sản Liên Xô. Đọc thẳng kinh điển còn hơn nghe thầy giảng. Thầy chỉ bắt đầu giảng bằng cách nêu lên yêu cầu của bài học, hướng dẫn cách học. Học viên tự học với nhau. Rồi 5 ngày sau thầy có mặt tại lớp, chỉ ngồi đó ai muốn hỏi thì thầy trả lời".

"Ở Banh I không có sách, không có tài liệu giáo khoa cho nên tôi phải trình bày trước bài học có hệ thống, viết trên sàn xi măng các tiết mục có thứ tự. Hôm sau anh em chất vấn, đặt bất kỳ câu hỏi nào, miễn là đừng lạc đề. Tôi xếp các câu hỏi có đầu đuôi và trả lời hết thảy. Tôi khuyến khích anh em hỏi, "đánh bí” nữa nếu thấy cần, cái gì tôi biết thì tôi trả lời, cái gì không biết thì tôi nói không biết, tôi không cù nhầy ấm ớ bao giờ. Buổi thứ ba tới phần tôi hỏi, anh em trả lời và thảo luận vấn đề tôi đặt ra".

Sở dĩ các bài giảng "tuồng bụng" của thày Giàu có sức hấp dẫn là do ông đã học được phương pháp dạy lý luận của các giáo sư đỏ ở Đại học Phương Đông, "nằm lòng" toàn bộ chương trình một cách khá đầy đủ và có thứ lớp. Hồi ở Đại học Phương Đông, Trần Văn Giàu được đọc kinh điển, học từ kinh điển, học từng đề mục, từng tiết, từng chương, từng bài. Học cùng chương trình như các học viên, nhưng khác hơn là đọc xong bài nào thì Trần Văn Giàu dịch ngay bài đó từ nguyên bản tiếng Pháp ra tiếng Việt. Sau đó chuyển cho Lê Hồng Phong để kiểm tra bản dịch theo bản tiếng Nga. Nhờ dịch như vậy mà ông nắm được bài học rất đầy đủ, nhớ rất kỹ các tiết, mục.

Các thành viên trong chi ủy như Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Đức Thọ, Tôn Đức Thắng đều nghiêm túc tham gia lớp học sau song sắt. Nhờ được học tập và rèn luyện trong nhà tù Côn Đảo, khi mãn hạn tù, được ân xá hay vượt ngục thành công, những người tù chính trị đã góp phần quan trọng khôi phục phong trào Cách mạng. Sau này, nhiều người đã trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà nước. Lê Văn Lương khi làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng thường tâm sự: "Mình trưởng thành nhiều trong thời gian ở tù". Lê Đức Thọ, sau là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương cũng xác nhận: "Hồi ở Côn Lôn chính Giàu dạy tôi học chủ nghĩa Mác-Lênin, chớ trước đó mình có học gì bao nhiêu đâu!".

Kỳ 5: Lớp học văn hóa - chính trị ở Hòn Cau
 

Bình luận (0)

Lên đầu trang