Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Đảng bộ TPHCM nhiệm kỳ 2025 - 2030 (mở rộng) được tổ chức vào chiều ngày 22/9. Hội nghị diễn ra theo hình thức trực tiếp mở rộng và thảo luận tại hội trường cho ý kiến đối với 04 nội dung trọng tâm: (1) Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Thành phố 9 tháng đầu năm 2026; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026. (2) Đồ án Quy hoạch tổng thể Thành phố Hồ Chí Minh. (3) Báo cáo công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị 9 tháng đầu năm 2026; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026. (4) Nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2026, trọng tâm là tăng trưởng kinh tế đạt mức 02 con số, giải ngân vốn đầu tư công đạt 100% kế hoạch và thu ngân sách nhà nước đạt 1 triệu tỷ đồng.
Đồng chí Trần Lưu Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy chủ trì Hội nghị.
9 tháng thu ngân sách nhà nước đạt 670.599 tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán Trung ương giao
9 tháng đầu năm 2026 kinh tế - xã hội Thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực; các động lực tăng trưởng về công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tiêu dùng, xuất khẩu và đầu tư phát huy hiệu quả. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 683.867 tỷ đồng, tăng 47,63% so với cùng kỳ, đạt 57,95% mục tiêu năm. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 11,1%.

Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang chủ trì hội nghị. Ảnh: VIỆT DŨNG
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.488.711 tỷ đồng, tăng 13,8%. Doanh thu du lịch đạt 282.696 tỷ đồng, tăng 43,4%; khách quốc tế đạt 8,51 triệu lượt, tăng 34,5%; khách nội địa đạt 39,56 triệu lượt (đạt 79,1% kế hoạch năm). Vận tải hành khách công cộng đạt 487,5 triệu lượt, tăng 13,4%.
Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 76,25 tỷ USD, tăng 10,29%; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 81,22 tỷ USD, tăng 11,2%. Tổng huy động vốn tín dụng ước đạt 5.741.500 tỷ đồng (tăng 9,1% so với cuối năm 2025); tổng dư nợ tín dụng ước đạt 5.802.000 tỷ đồng (tăng 11,4% so với cuối năm 2025).
Thu ngân sách nhà nước đạt 670.599 tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán Trung ương giao (đạt khoảng 66,4% so với mục tiêu trên 01 triệu tỷ đồng). Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 187.817 tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán. Phân bổ 147.599,166 tỷ đồng kế hoạch vốn đầu tư công (đạt 100% kế hoạch); dự kiến giải ngân hết tháng 9/2026 đạt 103.319 tỷ đồng (đạt 70% kế hoạch).
Thu hút vốn FDI đạt khoảng 17,2 tỷ USD, vượt 56,6% so với kế hoạch năm 2026 và tăng 318,9% so với cùng kỳ. Chấp thuận chủ trương đầu tư 37 dự án trong nước với tổng vốn khoảng 209.992,44 tỷ đồng. Có 43.860 doanh nghiệp thành lập mới và 15.672 doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tuy nhiên, có 11.820 doanh nghiệp giải thể (tăng 130,91%) và 37.913 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 15,22%).
Đối với 921 dự án tồn đọng, đã hoàn thành tháo gỡ khó khăn cho 233 dự án (đạt 25%) và đã có hướng chỉ đạo xử lý cho 688 dự án.
Một số nội dung trọng tâm Đồ án Quy hoạch tổng thể TP.Hồ Chí Minh
Theo Tờ trình số 59-TTr/TU ngày 21 tháng 9 năm 2026 của Ban Thường vụ Thành ủy trình Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố xem xét, cho ý kiến đối với Đồ án Quy hoạch tổng thể Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 2025 - 2030, tầm nhìn 100 năm, có một số vấn đề nổi bật sau:
Tầm nhìn 100 năm: Trở thành “Đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, sánh ngang các đô thị hàng đầu thế giới”, siêu đô thị phát triển hài hòa giữa kinh tế, môi trường, công bằng xã hội và giá trị văn hóa.
Các mốc mục tiêu: Đến năm 2030: Đô thị văn minh, hiện đại, nổi trội ở khu vực Đông Nam Á. Đến năm 2045: Trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của châu Á. Đến năm 2075 và xa hơn: Đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu.
Về dân số: Đến năm 2030: Khoảng 18 triệu người (15 triệu dân số trung bình + 3 triệu dân số quy đổi). Đến năm 2045: Khoảng 25 triệu người (20,4 triệu dân số trung bình + 4,6 triệu dân số quy đổi). Đến năm 2050: Khoảng 27 triệu người (21,6 triệu dân số trung bình + 5,4 triệu dân số quy đổi).
Về tăng trưởng kinh tế (GRDP): Giai đoạn 2026 - 2030: Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt tối thiểu 10%/năm; quy mô GRDP đến năm 2030 khoảng 110 - 120 tỷ USD. Giai đoạn 2031 - 2045: Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt tối thiểu 10%/năm; quy mô GRDP đến năm 2045 khoảng 500 - 550 tỷ USD. Giai đoạn 2046 - 2050: Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt tối thiểu 6%/năm; quy mô GRDP đến năm 2050 khoảng 750 - 800 tỷ USD.
Định hướng cấu trúc không gian & ngành kinh tế: Định hướng 04 nhóm ngành kinh tế động lực: Nhóm động lực đổi mới sáng tạo cốt lõi: Dịch vụ số và AI, Trung tâm Tài chính và kinh doanh khu vực, sản xuất tiên tiến. Nhóm công nghệ đột phá mới: Công nghệ mới, điện toán và Trung tâm dữ liệu. Nhóm hạ tầng chiến lược nền tảng: Năng lượng, Trung tâm logistics tiên tiến, xây dựng. Nhóm chất lượng sống & dịch vụ: Du lịch và giải trí cao cấp, dịch vụ đô thị.
Mô hình cấu trúc không gian siêu đô thị: Phát triển theo mô hình siêu đô thị đa cực, đa tâm, đa tầng, đa chức năng, bao gồm:
- 05 cực động lực: (1) Lõi trung tâm quốc tế; (2) Đổi mới sáng tạo phía Đông; (3) Công nghiệp, công nghệ cao, logistics phía Bắc; (4) Cảng biển, thương mại tự do, logistics quốc tế và năng lượng phía Nam; (5) Đô thị, giáo dục, y tế phía Tây.
- 05 trung tâm vệ tinh: Côn Đảo; Long Hải - Hồ Tràm; Hóc Môn - Củ Chi; Bàu Bàng; Tân Uyên - Bắc Tân Uyên.
- 05 hệ liên kết chiến lược: Bắc - Nam; Đông - Tây; Công nghiệp - sản xuất - logistics đa phương thức; Hạ tầng đô thị đa tầng; Xanh - xanh dương (trục trung tâm là sông Sài Gòn - sông Đồng Nai).
- 10 vùng quản trị phát triển: Tổ chức theo chức năng và đặc thù sinh thái/sức chịu tải (trong đó đặc thù gồm Cần Giờ, Cái Mép - Thị Vải, Vũng Tàu - Long Hải - Hồ Tràm, Côn Đảo).
Áp dụng vị trí việc làm kết hợp đánh giá hiệu quả (KPI) giúp bộ máy vận hành minh bạch hơn
Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Trần Lưu Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy đánh giá, Thành phố đã đi qua 3/4 chặng đường năm 2026 với nhiều kết quả tích cực, hoàn thành nhiều nhiệm vụ khó. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp hoạt động chuẩn xác, hiệu quả và dần hoàn thiện. Tốc độ tăng trưởng và các chỉ tiêu định lượng (như giải ngân đầu tư công) đạt những giá trị mang tính kỷ lục. Niềm tin, sự đồng lòng và kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp vào sự thay đổi của Thành phố là “điểm cộng” lớn nhất. Tinh thần đoàn kết, gắn bó của đội ngũ cán bộ Thành phố được nâng cao.
Đồng chí Trần Lưu Quang nhấn mạnh những điểm sáng nổi bật đối với Thành phố, đó là: Vận dụng hiệu quả các Nghị quyết của Quốc hội để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 09 và trình Quốc hội thông qua Luật Phát triển đô thị. HĐND Thành phố đã thông qua gần 30 nội dung cụ thể hóa và sẽ tiếp tục họp trong tháng 10/2026 để sẵn sàng áp dụng các cơ chế mới. Thành phố đã triển khai hiệu quả các chính sách chăm lo toàn diện: bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 18 tuổi và người già trên 65 tuổi; hỗ trợ bệnh nhân chạy thận, người nghèo, trẻ em ung thư; cho mượn sách giáo khoa trong giáo dục. Thực hiện miễn phí xe buýt kết hợp đầu tư hạ tầng giúp lượng hành khách tăng 49% so với cùng kỳ, góp phần giảm xe cá nhân, giảm ùn tắc và ô nhiễm. Điều chỉnh hợp lý các luồng tuyến giao thông tại các điểm nóng. Đổi mới phương thức điều hành, phân công các Phó Bí thư Thành ủy trực tiếp chỉ đạo, điều phối các dự án lớn giúp UBND Thành phố tháo gỡ điểm nghẽn mà không làm thay việc của chính quyền. Bước đầu áp dụng vị trí việc làm kết hợp đánh giá hiệu quả (KPI) giúp bộ máy vận hành minh bạch hơn.

Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang phát biểu kết luận hội nghị. Ảnh: VIỆT DŨNG
Đồng chí Bí thư Thành ủy cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nút thắt cần tháo gỡ, đó là: Cấp xã, phường và một số sở, ngành còn lúng túng trước sự thay đổi về tổ chức bộ máy, quy định mới và khối lượng công việc phát sinh. Việc phân công, điều chuyển nhân sự nội bộ ở một số nơi chưa tối ưu; một số cán bộ còn tâm lý ngại thay đổi, đối phó, thiếu dũng cảm trong tư duy xử lý công việc. Thủ tục hành chính còn rườm rà, sa vào họp hành nhiều do tâm lý e ngại trách nhiệm pháp lý. Các dự án tồn đọng, khiếu kiện cũ xử lý còn chậm do vướng mắc quy trình.
Đồng chí Bí thư Thành ủy nhấn mạnh đến những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 03 tháng cuối năm, gồm:
Thứ nhất, quyết tâm thực hiện 3 mục tiêu lớn: Tăng trưởng trên 2 con số (Nghị quyết Chính phủ là 10,02%), thu ngân sách 1 triệu tỷ đồng, giải ngân 100% vốn đầu tư công. Để thực hiện các mục tiêu này, thách thức rất lớn nhưng cơ hội đạt được không nhỏ do Quý IV là giai đoạn tăng trưởng bứt phá theo quy luật, kết hợp với việc Luật Phát triển đô thị và các Nghị quyết HĐND có hiệu lực từ ngày 1/10/2026.
Thứ hai, 06 nhóm công việc cụ thể từ nay đến cuối năm:
- Rà soát lại tất cả các hoạt động, đặc biệt là vốn đầu tư toàn xã hội để phản ánh chính xác vào chỉ số tăng trưởng.
- UBND Thành phố chỉ đạo điều phối đồng bộ 4 khâu (Đền bù giải phóng mặt bằng - Vật liệu xây dựng -Xây lắp - Chuẩn bị đầu tư); siết chặt trách nhiệm của các ban quản lý dự án, nhà thầu và các sở, ngành.
- Thúc đẩy đầu tư tư nhân, FDI và xuất khẩu,chuyển mạnh từ "thu hút dự án" sang "triển khai dự án". Đơn giản hóa thủ tục, cho phép làm song song các quy trình nếu pháp lý cho phép.
- Đảm bảo tăng trưởng đi đôi với phát triển bền vững: Trong đấu giá đất, không chạy theo “đấu giá bằng mọi giá” nếu thị trường chưa phù hợp, chủ động xoay xở các nguồn thu khác.
- Quản lý thu ngân sách, đẩy mạnh chống thất thu, rà soát thu hồi các khoản nợ đọng, nhưng tuyệt đối “không tận thu” để doanh nghiệp có dư địa phục hồi và phát triển.
- Kích cầu dịch vụ, du lịch, thương mại và công nghiệp văn hóa. Tận dụng nhu cầu mua sắm cuối năm, đẩy mạnh các chương trình du lịch và tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật lớn để đóng góp trực tiếp vào GRDP.
Thứ ba, về công tác xây dựng Đảng, cán bộ và tổ chức bộ máy:
- Đánh giá và sắp xếp cán bộ: Thực hiện đánh giá cán bộ chuẩn xác bằng KPI và sự hài lòng của người dân/doanh nghiệp; kiên quyết thay thế cán bộ không đáp ứng yêu cầu. Việc điều chuyển, sắp xếp nhân sự thực hiện liên tục, minh bạch, công tâm.
- Đề cao trách nhiệm người đứng đầu: Tăng cường phân cấp, ủy quyền đi đôi với trách nhiệm cá nhân người đứng đầu; sẵn sàng từ chức hoặc rời vị trí nếu không hoàn thành nhiệm vụ.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát: Tập trung kiểm tra, giám sát quá trình vận hành các cơ chế mới để tránh sai sót và tập trung xử lý các tồn tại cũ.
- Đổi mới công tác tuyên giáo - dân vận: Làm công tác vận động quần chúng thực chất, bớt hô khẩu hiệu, tập trung củng cố niềm tin Nhân dân.
Thứ tư, về nhóm giải pháp chiến lược dài hạn:
- Chuẩn bị nguồn nhân lực: Xây dựng Đề án thu hút nhân tài chia làm 3 nhóm: Nhà khoa học (đặt hàng Đại học Quốc gia TPHCM), Chuyên gia (cho các sở, ngành) và Lực lượng có kỹ năng thực hành (cho cấp xã, phường).
- Quản lý nhà, đất công: Khẩn trương rà soát, quản lý chặt chẽ gần 20.000 địa chỉ nhà, đất công; khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý gây lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước.
- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Tăng cường chỉ đạo nâng cao hiệu quả hoạt động và đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả.
- An ninh năng lượng: Chủ động chuẩn bị nguồn điện (bao gồm điện năng lượng xanh, năng lượng tái tạo) để sẵn sàng đón nhận các dự án công nghệ cao, bán dẫn quy mô lớn.