Vụ hàng trăm héc-ta rừng bị tàn phá: UBND tỉnh Cà Mau đã có báo cáo xử lý

Thứ Năm, 23/07/2026 15:40

|

(CATP) Liên quan đến vụ hàng trăm héc-ta rừng ở Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Hạ bị tàn phá mà Chuyên đề Công an TPHCM đã phản ánh, mới đây, UBND tỉnh Cà Mau có báo cáo chi tiết về việc rà soát tình hình cây rừng bị suy thoái, suy kiệt, chết, gãy, ngã đổ tại địa điểm nêu trên. Ngoài ra, chuyên gia cũng đã đưa ra nhiều hiến kế để phục hồi.

Hơn 800 héc-ta rừng chết, suy kiệt

Theo UBND tỉnh Cà Mau, qua kiểm tra thực địa và rà soát, tại một số khu vực ghi nhận cây sinh trưởng kém, tán thưa, dây leo phát triển mạnh, cây chết, gãy và ngã đổ. Phạm vi khoanh vùng ban đầu với khoảng 300 héc-ta rừng tự nhiên tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có biểu hiện suy thoái rõ rệt. Ngoài ra, tại khu vực này còn khoảng 467 héc-ta có dấu hiệu hoặc nguy cơ suy thoái. Tại phân khu phục hồi sinh thái có khoảng 92 héc-ta rừng tự nhiên với biểu hiện suy thoái cần tiếp tục điều tra xác định mức độ.

"Hiện chưa có hệ thống ô mẫu đủ đại diện để tách riêng tỉ lệ cây suy kiệt, chết, gãy, ngã đổ; chưa có chuỗi quan trắc liên tục về mực nước, độ sâu cũng như thời gian ngập, chiều dày than bùn, chất lượng đất - nước, sinh trưởng, sâu bệnh, dây leo và tái sinh tự nhiên. Vì vậy, hiện tại chưa đủ cơ sở khoa học để xác định chế độ quản lý nước là nguyên nhân duy nhất hoặc nguyên nhân chính gây ra các biểu hiện nêu trên. Tuy nhiên, chưa thể loại trừ khả năng chế độ ngập sâu, ngập kéo dài và việc điều tiết nước chưa phù hợp với từng vùng địa hình, đơn vị thủy văn có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây rừng tại một số khu vực thuộc VQG U Minh Hạ”, báo cáo nêu.

Hàng trăm héc-ta rừng ở Vườn Quốc gia U Minh Hạ suy kiệt, chết khô

Để bảo vệ hệ sinh thái rừng tràm đặc trưng, UBND tỉnh Cà Mau đã đưa ra 2 nhóm nhiệm vụ khẩn trương thực hiện. Cụ thể, khoanh vùng, lập bản đồ số; phân loại cây suy kiệt, chết, gãy, ngã đổ và khu vực có dấu hiệu/nguy cơ suy thoái theo phân khu, tiểu khu, khoảnh, lô; bố trí ô kiểm tra nhanh, đo mực nước, độ sâu và thời gian ngập cũng như chiều dày than bùn, dây leo, sâu bệnh, tái sinh. Thiết lập chế độ theo dõi định kỳ, đo mực nước, tổ chức kiểm tra hiện trường sau mưa lớn, thời kỳ ngập cao và mùa khô.

Trước mắt, UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo xây dựng phương án vận hành nước tạm thời theo mùa, cao độ và đơn vị thủy văn; rà soát chức năng từng cống, đập, tuyến kênh; xác định vùng trữ nước chiến lược và vùng cần tiêu thoát có kiểm soát; xây dựng và thực hiện mô hình thí điểm quản lý nước, phục hồi tự nhiên, tái sinh và kiểm soát dây leo tại vị trí đủ điều kiện; có khu đối chứng, chỉ tiêu giám sát và tiêu chí dừng.

Về lâu dài, tỉnh Cà Mau không chỉ xây dựng nhiệm vụ khoa học và công nghệ đánh giá tổng thể nguyên nhân, ngưỡng mực nước, chế độ ngập - khô, diễn biến than bùn, tuổi/cấu trúc rừng, dây leo, sâu bệnh, tái sinh và biến đổi khí hậu mà còn xây dựng kế hoạch phục hồi hệ sinh thái rừng suy thoái theo từng phân khu. Đồng thời, đầu tư hệ thống quan trắc tự động mực nước, khí tượng, chất lượng nước - đất, độ ẩm than bùn và cảnh báo cháy; tích hợp ảnh viễn thám, thiết bị bay không người lái và cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng...

Vườn Quốc gia U Minh Hạ

Chuyên gia hiến kế gì?

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện (chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL) cho rằng: Hệ sinh thái rừng ở U Minh Hạ thích nghi với điều kiện ngập theo mùa, không chịu được chế độ ngập nước quanh năm. Nếu ngập liên tục, lượng oxy không đủ để duy trì sự sống lâu dài làm cho rễ bị thối. Cây tràm cần có giai đoạn khô trong năm để phục hồi, tái tạo mô rễ và hấp thu dinh dưỡng. Ngoài ra, nếu ngập liên tục quá lâu, đất than bùn bị suy thoái, rễ cây chết, nước than bùn hay "nước dớn" làm cản quang hợp, dẫn đến cây chết hàng loạt và rừng suy kiệt. Lớp than bùn dày 0,5-1,5m vốn là nền tảng cho rừng tràm, nhưng khi ngập lâu, đất trở nên xốp, rỗng, mất kết dính. Vào mùa khô, cây dễ bật gốc, đổ ngã.

Theo chuyên gia Thiện, U Minh Hạ ở Cà Mau và U Minh Thượng ở Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang) là những mảnh sót lại của một vùng than bùn U Minh rộng lớn trải dài từ Cà Mau qua Kiên Giang. Đặc điểm của vùng than bùn này chỉ có nước mưa, không có nước từ sông ngòi. Trong tự nhiên, chế độ thủy văn là 6 tháng ngập nước mưa và 6 tháng khô. Trong 6 tháng khô không có nước ngập trên mặt, nhưng nước bên trong than bùn đủ để giữ ẩm bề mặt. Nhịp thủy văn như vậy là yếu tố định hình cho hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học. Dù không có nước ngập thì lớp than bùn ẩm trong mùa khô không bị oxy hóa xẹp xuống theo thời gian.

Một góc Vườn Quốc gia U Minh Hạ

Do quá trình khai phá đất nông nghiệp, lớp than bùn bên ngoài 2 VQG đã biến mất, theo đó cao trình của mặt than bùn bên trong VQG cao hơn mặt đất bên ngoài 0,5-2m tùy theo độ dày của lớp than bùn. Vì vậy, các vùng bảo tồn than bùn này phải có đê bao xung quanh để giữ nước mưa lại giữ ẩm và điều tiết nước.

Cũng theo ông Thiện, quản lý hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn là một việc không dễ, trong đó quản lý thủy văn quyết định đến sức khỏe của toàn bộ hệ sinh thái. Quá khô thì dễ bị cháy và thậm chí nếu không cháy mà lớp than bùn bị khô trong suốt mùa khô cũng bị oxy hóa, phân hủy, biến mất dần theo thời gian. Ngược lại, nếu để ngập nước quanh năm thì hệ sinh thái suy thoái, thảm thực vật và hệ động vật bị suy thoái, biến đổi.

Vụ cháy rừng U Minh Hạ năm 2002, gây thiệt hại 4.300 héc-ra rừng tràm. Sau đó, vì lo sợ cháy rừng, mực nước trong VQG đã được giữ cao quanh năm. Cho đến năm 2007, gây chết rừng hàng loạt trên khoảng 35% diện tích tràm trong vườn. Sau đó một hệ thống kênh bàn cờ, tổng cộng 120km chiều dài với kinh phí khoảng 15 tỷ đồng đã được xây dựng bên trong vườn để vừa làm đường cản lửa vừa làm đường vận chuyển phương tiện và lực lượng chữa cháy.

Tuy nhiên, nước mưa trữ bên trong vẫn bị thất thoát do thấm qua đê. Chính mạng lưới kênh đào bàn cờ bên trong VQG nhằm giảm rủi ro cháy lại làm tăng thất thoát nước thông qua bốc hơi nước trên mặt nước kênh mương và hệ thống này chia cắt làm vỡ vụn đường mực nước ngầm bên dưới than bùn. Từ đó, mực nước trong than bùn hạ thấp khiến bề mặt than bùn và thảm thực vật trở nên khô khốc trong mùa khô. Trong mùa khô thì hệ thống kênh lại hút nước từ than bùn ra càng làm cho than bùn khô hơn, chỉ cần một mồi lửa nhỏ có thể gây cháy lan rộng dữ dội.

Do đó, để khỏi bị cháy thì nước đã được giữ ngập trong mùa khô. Vì cao trình mặt đất không đồng đều và đã từng có những trận cháy loang lổ, nên cao trình của lớp than bùn không đồng đều, chỗ cao chỗ trũng. Giữ mực nước đủ ẩm cho nơi cao thì những chỗ trũng bị dìm trong nước và làm tràm chết hàng loạt như hiện nay.

Nói về giải pháp việc quản lý nước đối với hệ sinh thái trên đất than bùn U Minh Hạ, chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện cho rằng: Để duy trì hệ sinh thái đặc trưng ngập theo mùa và để bảo vệ lớp than bùn không bị suy thoái do quá khô hay do ngập quá lâu thì mục tiêu quản lý cần đạt được là: Trong mùa nắng, duy trì mực nước ngầm thời kỳ khô hạn nhất trong năm không thấp hơn 50cm dưới mặt than bùn để độ ẩm không thấp hơn 20%. Từ đó, rừng khó cháy và nếu có cháy thì không lan rộng và dễ dập tắt. Còn mùa mưa duy trì mực nước trên mặt than bùn khoảng 32cm vào cuối mùa mưa để bù lại lượng bốc hơi và rò rỉ từ đầu mùa khô đến cuối tháng 5, sao cho vào thời điểm khô nhất thì mực nước ngầm cũng không thấp hơn 50cm dưới mặt than bùn.

Vì cao trình mặn than bùn không đều nhau, có nơi cao nơi trũng, không thể giữ cùng một mực nước trong toàn vườn quốc gia. Theo đó, cần đắp đê bao riêng cho những vùng có độ cao khác nhau để tạo thành những ô giữ mức ngập khác nhau đáp ứng mục tiêu giữ nước cho từng khu. Lưu ý, chỉ đắp đê không có kênh vì kênh sẽ làm thất thoát nước rất nhanh. Trước đó, cần khảo sát lập bản đồ cao trình chi tiết và phân bố than bùn, nhu cầu nước cho từng vùng, cho toàn VQG.

Đối với hệ thống kênh bàn cờ hiện có bên trong VQG đang gây thất thoát nước nhiều, có thể học hỏi cách làm ở Indonesia. Ở đất nước này, người ta cho đắp chặn 2 đầu các con kênh lại để ngăn chặn dòng nước chảy tự do, gây thất thoát và làm oxy hóa than bùn bằng oxy hòa tan trong nước. Mặt nước của các kênh này nên được phủ kín bằng lục bình để giảm bốc hơi mặt thoáng trong mùa khô. Tiếp theo là xây dựng quy trình quản lý nước, hệ thống quan trắc tự động, phần mềm xử lý dữ liệu hệ thống bơm, đội ngũ chuyên trách quản lý nước.

Trên hết, mục tiêu của việc quản lý nước ở vùng U Minh là sự quản lý cân bằng hệ sinh thái với những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, quần thể thực vật, rừng tràm, lớp than bùn, hệ động vật trong rừng, trong đồng cỏ, hệ sinh thái thủy sinh và vi sinh vật trong than bùn. Do đó, quản lý hệ này là một việc phức tạp, không chỉ chống cháy là đủ. Việc quản lý nước không nhằm loại bỏ hoàn toàn yếu tố lửa ra khỏi hệ sinh thái. Lửa ở một mức độ vừa phải, không lan rộng và với tần suất vài chục năm một lần vẫn có thể chấp nhận được. Thực tế trong tự nhiên, lửa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tái sinh và phục tráng hệ thực vật, duy trì đa dạng sinh học.

Bình luận (0)

Lên đầu trang