Ông mang đến cho chúng tôi gia tài quý báu nhất đời mình, đó là bức ảnh bác sĩ Ngô Thị Trừng thời thanh xuân. Ông đã giữ bức ảnh ấy bên mình suốt hơn nửa thế kỷ. Nhờ gặp được ông mà chúng tôi biết thêm đôi điều về người nữ bác sĩ, Liệt sĩ kiên cường, đã dám chọn cho mình một cái chết gây xúc động cho bao trái tim con người.
Chị Ngô Thị Trừng sinh ngày 15/4/1941, hy sinh ngày 16/3/1973. Ông Hai Liên Xô ngậm ngùi nói: "Đó là năm Quý Sửu. Một năm sau Hiệp định Paris, vô cùng ác liệt nhưng ánh sáng cho ngày hòa bình đã lóe lên phía chân trời rừng miền Đông. Vậy mà...".
Một nữ trí thức dấn thân
Cơ duyên nào mà một cô gái quê Thăng Bình, Quảng Nam lại có mặt ở cánh rừng miền Đông Nam bộ, phục vụ cho Ban Dân y miền Nam? Câu hỏi đó được ông Hai Liên Xô dần hé lộ những thông tin. Sinh ra trong gia đình có truyền thống Cách mạng, cha ruột là Ngô Thắng, tham gia trong đoàn quân hải ngoại từ Thái Lan về nước chiến đấu từ thời chống Pháp, sau ông công tác ở Đài phát thanh Giải phóng. Sau Hiệp định Genève, Ngô Thị Trừng được tập kết ra Bắc, được vào học trường học sinh miền Nam, được đào tạo Y khoa, ngành "Gây mê hồi sức". Đó là ngành dành cho những ca phẫu thuật lớn, ở những bệnh viện lớn. Nhưng chị đã kiên quyết xin vào chiến trường miền Nam...

Bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh (thứ hai từ phải qua) trong cuộc họp mặt Ban Dân y tại Quy Đức, 2013. Ảnh: TRẦM HƯƠNG
Tốt nghiệp Đại học Y khoa, ngành gây mê hồi sức năm 1966, Ngô Thị Trừng có nhiều cơ hội về những bệnh viện lớn ở Hà Nội làm việc. Có chuyên viên gây mê hồi sức mới có thể thực hiện được những ca phẫu thuật lớn. Chuyên ngành của bác sĩ Ngô Thị Trừng thời ấy rất được săn đón nhưng chị kiên quyết xin đi B, vào chiến trường miền Nam. Trong sâu thẳm, chị mong được gặp lại người cha thân yêu sau bao ngày xa cách. Chị thầm nghĩ chỉ có con đường vào Nam mới có thể gặp lại những người thân trong gia đình. Nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương miền Nam cồn cào gan ruột chị. Vậy là chị chỉ có một con đường "đời đẹp nhất là đời đi chiến đấu" như nhiều người con miền Nam đã dấn thân vượt Trường Sơn vào Nam, chân cứng đá mềm, với cái đầu kiên định một ý chí sắt đá: "Đã đi thì phải đến đích chiến trường".
Vừa vào chiến trường miền Nam, bác sĩ Ngô Thị Trừng đã nếm ngay mùi trận càn Jonhson City vào đầu năm 1967. Người xác nhận chi tiết này là bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh. Ông có rất nhiều kỷ niệm với bác sĩ Ngô Thị Trừng. Cũng thật tiếc nuối, chỉ ít lâu sau ông qua đời vì một căn bệnh hiểm nghèo. Những gì tôi có về chị là bức ảnh chân dung do chồng chị mang đến trong bữa tiệc chay đạm bạc giữa TPHCM phồn hoa. Nhờ cuộc gặp gỡ ấy mà hôm nay viết về chị, tôi có được bức ảnh chân dung duy nhất của chị. Trong ảnh, chị là một phụ nữ đẹp với gương mặt cương nghị và cái nhìn nghiêm khắc. Người phụ nữ ấy hiện lên, như nở nụ cười đôn hậu, xác tín cùng bạn đọc, rằng những gì bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh kể và viết về đội phẫu thuật tiền phương đúng là như thế, mà có thể còn hơn thế nữa.
Thắt lòng trước tình mẫu tử cao đẹp
Vâng, đúng là sau trận càn Jonhson City, chị vẫn tồn tại, lặng lẽ cùng những ca phẫu thuật vô tiền khoáng hậu của ngành y tế Cách mạng trong kháng chiến, giữa cánh rừng miền Đông với muôn vàn thiếu thốn, hiểm nguy, với muỗi mòng, rắn rít và bom pháo. Chị đã cùng đồng đội chia sẻ từng hớp không khí trong những căn hầm bí mật mà sự sống và cái chết ngỡ như trong gang tấc. Bao gian khổ hiểm nguy tưởng chừng chị vượt qua được hết, nào ngờ...
Bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh hôm đó kể: "Thuốc gây mê là hàng quý hiếm, bệnh viện trong rừng luôn thiếu, quý như vàng. Để chữa trị cho thương binh, bác sĩ Trừng có những chuyến công tác vào vùng địch hậu mua thuốc. Chị cải trang, ôm con đi trên những chiếc ghe, hòa vào nếp sinh hoạt thường ngày của đồng bào vùng biên giới. Trên đường về, nào ngờ sóng gió bất ngờ nổi lên, chiếc ghe chao mạnh, bị lật ngang. Hai mẹ con chị Trừng rơi xuống sông, bị dòng nước dữ nhấn chìm. Trong phút thập tử nhất sinh, chị Trừng cố sức vẫy vùng, chòi đạp, hai tay cố nâng đứa trẻ lên. Nhờ vậy, đứa bé được cứu sống. Chị kiệt sức, chìm dần, bị dòng nước cuốn trôi. Khi được bà con vớt lên, chị đã hy sinh vì nước! Hôm ấy là ngày 16/3/1973 (Quý Sửu)".

Những ca phẫu thuật trong rừng không thể thiếu bác sĩ gây mê hồi sức. Tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội, bác sĩ Ngô Thị Trừng vào Nam, sớm có mặt ở nơi rất cần mình
Những kỷ niệm tình yêu
Chầm chậm, gượng nhẹ mở chiếc túi nhỏ, ông Trần Thanh Khiết (Hai Liên Xô) lấy ra bức ảnh chân dung đã ố vàng, cũ kỷ. Đó cũng là kỷ vật duy nhất của người vợ thân yêu để lại trên dương thế mà ông còn giữ được. Ông Hai Liên Xô nắn nót ghi hàng chữ phía sau bức ảnh: "Ngô Thị Trừng... Sinh ngày 15/4/1941. Ngày đi B 24/11/1966. Mất ngày 16/3 năm Quý Sửu, nhằm ngày 12 tháng 2 âm lịch". Chỉ mấy dòng ngắn ngủi về người vợ nhưng dường như ký ức gợi lên trong lòng ông cơn bão nhớ thương. Ông kể: "Chúng tôi yêu nhau lúc còn là học sinh ở miền Bắc. Cô ấy rất đẹp, rất hiền, kiến thức sắc sảo. Tốt nghiệp Đại học Y khoa, cô ấy đi B, vào chiến trường miền Nam.
Lúc Trừng vượt Trường Sơn, tôi còn học ở Liên Xô. Năm sau, tôi về nước, kiên quyết xin vào Nam, theo những bước chân em. Gặp lại nhau trong căn cứ Trung ương Cục, khỏi phải nói là chúng tôi hạnh phúc đến dường nào. Đồng chí Mười Lù - người phụ trách sức khỏe cho đồng chí Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) tổ chức lễ cưới cho chúng tôi tại Hội trường Ban Dân y. Và cũng không cần nói gì thêm, chúng tôi hạnh phúc đến dường nào. Cưới nhau xong, Trừng lao vào nhiệm vụ cứu chữa thương binh. Tôi cũng miệt mài phục vụ cơ quan ở Văn phòng Trung ương Cục. Khi Trừng hy sinh, con chúng tôi còn quá nhỏ. Năm 1974, tôi được tổ chức tạo điều kiện ra Hà Nội công tác. Tôi ngược Trường Sơn ra Bắc, lần này không với em mà là đứa con thơ...".

Bút tích ông Hai Liên Xô (Trần Thanh Khiết) sau bức di ảnh của vợ
Hòa bình, ông Hai Liên Xô nhiều lần ngược vào Nam, trở lại cánh rừng dọc biên giới Campuchia đi tìm mộ vợ. Năm xưa, chính anh là người chôn chị, chính tay anh khắc tên chị cùng ngày sinh vào bia mộ nhưng cỏ mọc đầy, anh không tài nào tìm ra được. Ông kể: "Tôi không thể bỏ cuộc khi đi tìm mộ em. Khu vực này tôi đã làm dấu bằng cây sắt ấp chiến lược. Cây sắt vẫn còn đây. Tôi đốt cỏ tranh, lộ ra một khoảng đất trống. Tấm bia mộ dần hiện ra. Tôi lặng đi, tin là em vẫn còn đâu đây, quấn quýt cùng tôi trên dương thế qua làn khói. Mắt tôi cay sè vì khói, vì khóc nhớ thương em. Ôi, có biết bao người đã ngã xuống như em, đã dâng hiến tuổi thanh xuân, cả hạnh phúc cho ngày hòa bình này!".
Khi vợ hy sinh, chuyện ông Hai Liên Xô nuôi đứa con mới hai tuổi cho đến ngày lớn khôn, đối với những người thế hệ chúng tôi cũng là một ẩn số. Tôi không dám hỏi thêm về những năm tháng dài dằng dặc với đau thương, mất mát mà ông phải đối mặt khi mất đi người bạn đời "rất đẹp, rất hiền". Ông đã sống chay tịnh nhiều năm ròng. Đó cũng là nguyên nhân ông gặp chúng tôi tại quán cơm chay trong con hẻm yên tĩnh vào một buổi trưa ở TPHCM, sau hơn 40 năm ngày chị Trừng hy sinh...
Quy tập thêm 101 bộ HCLS tại Công viên Lê Thị Riêng
Chỉ trong 10 ngày triển khai đợt 2 tìm kiếm, quy tập hài cốt Liệt sĩ (HCLS) tại Công viên Lê Thị Riêng (phường Hòa Hưng, TPHCM), lực lượng làm nhiệm vụ đã phát hiện, quy tập thêm 101 HCLS, trong đó 25 hài cốt có di vật kèm theo. Đây là thông tin được Bộ Tư lệnh TPHCM cho biết vào tối 24/10 về kết quả thực hiện đợt 2 tìm kiếm, quy tập HCLS tại Công viên Lê Thị Riêng. Theo đó, từ ngày 15/10 đến hết ngày 24/10, các lực lượng làm nhiệm vụ đã phát hiện, quy tập thêm 101 HCLS riêng lẻ tại khu B, trong đó 25 hài cốt có di vật kèm theo. Đáng chú ý, trong ngày 24/10, lực lượng chức năng tiếp tục phát hiện, quy tập thêm 10 HCLS, trong đó 3 hài cốt có di vật kèm theo. Kết quả này nâng tổng số HCLS được tìm thấy trong đợt 2 lên 101 hài cốt.
Trong quá trình triển khai nhiệm vụ, các lực lượng tiếp tục mở rộng phạm vi tìm kiếm tại khu B, tập trung đào, xử lý đất tại những vị trí phục vụ công tác quy tập. Để bảo đảm tiến độ, Bộ Tư lệnh TPHCM đã huy động 3 máy xúc, 1 xe ben và 2 xe tải loại 3,5 tấn phục vụ công tác đào, vận chuyển đất. Riêng trong ngày 24/10, khối lượng đất được xử lý đạt hơn 620m³. Đợt tìm kiếm thứ 2 được triển khai từ ngày 15/10, ngay sau khi TPHCM tổ chức lễ truy điệu, an táng 731 HCLS vào ngày 14/10. Trước đó, triển khai nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập HCLS tại Công viên Lê Thị Riêng trong đợt 1 (từ ngày 23/6), TPHCM đã quy tập được 731 HCLS và tổ chức lễ truy điệu, an táng theo quy định. Tính chung cả 2 đợt, từ ngày 23/6 đến hết ngày 24/10, lực lượng chức năng đã phát hiện, quy tập tổng cộng 832 HCLS tại Công viên Lê Thị Riêng, trong đó 332 hài cốt có di vật kèm theo. Trong số này, 799 hài cốt được phát hiện, quy tập riêng lẻ; 33 hài cốt được tìm thấy tại 8 vị trí mộ tập thể, gồm 2 vị trí tại khu A và 6 vị trí tại khu B. Bộ Tư lệnh TPHCM cho biết, công tác tìm kiếm, quy tập HCLS tại Công viên Lê Thị Riêng sẽ tiếp tục được triển khai với tinh thần trách nhiệm cao, thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với các Anh hùng Liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
(CATP) Bà Nguyễn Thị Đấu từng là y sĩ C18 Văn phòng Trung ương Cục miền Nam kể cơ duyên bà đến với rừng: "Tên thật của tôi là Nguyễn Thị Huệ, khi đi kháng chiến, tôi lấy bí danh Nguyễn Thị Đấu - tên một người chú (Nguyễn Văn Đấu) hy sinh anh dũng. Tôi quê xã Định Thủy, Mỏ Cày, Bến Tre - cái nôi của phong trào Đồng Khởi. Tôi là lính của dì Ba Định, trong đội quân tóc dài đi đấu tranh. Tôi lúc ấy còn rất trẻ, mới 17 tuổi đã lì đòn những trận địch đàn áp. Những trận khủng bố, đàn áp, bị địch lùa xuống sông, bị đem đi phơi nắng, bị đánh đập dã man tôi nếm đủ.