Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, khi đồng chí Tôn Đức Thắng thành lập tổ chức Công hội đỏ ở xưởng Ba Son; tại vùng Thị Nghè, công nhân hãng dầu Phú Mỹ, hãng bánh (hãng mỡ) Guyonnet, hãng chén, hãng ôtô buýt, nhà máy dây thép... đã tích cực tham gia vào tổ chức Công hội và làm dấy lên các cuộc đấu tranh từ tự phát đến tự giác.
Sau khi Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, tổ chức tiền thân của Đảng và Công hội đỏ ra đời, Công hội ở hãng dầu Phú Mỹ đã tổ chức được hàng chục đội tự vệ bảo vệ thành công nhiều cuộc mít-tinh, trong đó có cuộc biểu tình do đồng chí Lý Tự Trọng tổ chức trước hãng dầu Phú Mỹ ngày 18/3/1931.
Xóm Chiếu, Khánh Hội, Nhà Bè và vùng đất Thị Nghè xưa, còn là nơi các chiến sĩ cộng sản tiền bối nổi tiếng đã từng lăn xả hoạt động trong quần chúng để thực hiện chủ trương đi "vô sản hóa". Các đồng chí Ngô Gia Tự, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương... qua con đường "vô sản hóa", đã đi làm thợ nguội tại xưởng cơ khí Phaxi và xưởng Ba-đê. Đây là những trung tâm cơ khí công nghiệp lớn nhất tại Sài Gòn thời Pháp thuộc.
Ở đây ban ngày, các đồng chí đã tích cực làm công tác tuyên truyền, vận động công nhân. Ban đêm, cùng nhau tổ chức viết truyền đơn để cung cấp và phát tán cho các chợ búa, đồn điền, công sở, công nhân bến cảng, ngành may dệt... Đồng chí Ngô Gia Tự được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng và là một trong những người sáng lập ra tổ chức Công hội đỏ, chịu trách nhiệm xuất bản báo Búa Liềm của Đảng, tạp chí Công hội đỏ của Tổng Công hội; đồng thời trực tiếp soạn thảo nội dung các loại truyền đơn để tuyên truyền, vận động quần chúng. Đồng chí Lê Văn Lương là người chép để in. Đồng chí Hoàng Quốc Việt chuyên lo khâu in và phát hành.

Nhân dân Sài Gòn biểu dương lực lượng ngày 25/8/1945 (Ảnh tư liệu)
Nhằm bảo đảm an toàn cho việc hoạt động, hai đồng chí Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương ở với bà con lao động tại vùng xóm Chiếu. Ở khu vực này nhà gác sàn trên mặt nước, bắc cầu vào, cuộc sống eo hẹp khó khăn. Đồng chí Ngô Gia Tự sống với bà con lao động nghèo tại Phú An - một xóm nhỏ ven sông Thị Nghè, nơi gắn bó lâu đời với lịch sử hình thành và phát triển của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè. Ở nơi đây, đồng chí Ngô Gia Tự đã bị bọn Pháp vây bắt trong khi đang viết báo và truyền đơn Cách mạng.
Giờ đây được đọc những dòng hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt viết về đồng chí Ngô Gia Tự, chúng ta cảm thấy lòng xiết bao tê tái. Đồng chí Hoàng Quốc Việt viết: Nhớ một đêm tại xóm Chiếu, sau khi in truyền đơn xong, ba anh em chúng tôi ngồi tâm sự tới khuya. Anh Ngô Gia Tự vừa nói với chúng tôi, vừa khóc: "Đêm qua có anh em cơ sở trên các đồn điền cao su về gặp mình cho biết chính sách của bọn chủ hãng cao su, bọn Công ty Mi-sơ-lanh là chính sách roi vọt. Chúng nó đưa về một bọn Tây cai toàn là một bầy ác thú, thường là tuyển từ bọn nhà binh, lính đánh thuê sang, cả bọn lính tuyển mộ từ đảo Coóc khét tiếng tàn bạo. Roi song to bằng ngón chân cái, cứ thế quật túi bụi vào đầu vào cổ anh em mình. Nát nhừ cái roi, quăng đi lấy cái khác. Có thằng đánh như thế nát hàng bó roi. Lại có thằng chỉ thích thọi và đá, toàn chọn mạng mỡ với những chỗ hiểm, giày săng đá cứ như thế mà đá. Đã có anh em thọt dái lên cổ mà chết, có anh em dập lá lách mà chết. Chết, nó sai khiêng quăng vào rừng cao su non đào sẵn hố, lấp đất lên.
Không thể tưởng tượng được. Có thằng lại chỉ hiếp. Con gái trẻ nó hiếp, bà già nó cũng hiếp. Nó hiếp phụ nữ, đàn bà ở trong rừng, không xa chỗ làm là mấy. Ốm đau không có thuốc, mà hễ lên nhà thương xin thuốc lại rơi vào địa ngục khác. Y tá mà đánh bệnh nhân, phụ nữ mà lên xin thuốc thế nào cũng bị y tá hiếp"(1).
Đọc những lời đau thắt ruột gan trên đây của Bí thư Xứ ủy Ngô Gia Tự trong đêm ở xóm Chiếu, khiến chúng ta nhớ mãi những câu thơ đầy phẫn uất của Tố Hữu:
Ôi nhớ những năm nào thuở trước
Xóm làng ta xơ xác héo hon
Nửa đêm thuế thúc trống dồn
Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy
Cha trốn ra Hòn gay cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng!
Con đói lả ôm lưng mẹ khóc
Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi
Kiếp người cơm vãi cơm rơi
Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi...
Chính nỗi đau đến tột cùng của người dân mất nước, là lò gang thép đã luyện nên "cử chỉ phi thường" (lời Bác Hồ) để đánh giặc của Nhân dân trong vùng "vành đai đỏ” Xóm Chiếu - Khánh Hội - Thủ Thiêm - Thị Nghè, của đồng chí và đồng bào thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong những ngày khởi đầu không thể nào quên của cuộc kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Nam Bộ.

Bìa quyển sách Con đường theo chân Bác của đồng chí Hoàng Quốc Việt
Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã tái hiện lại chiến trường xưa, giúp cho chúng ta thấy rõ: "Chiến sự ngày càng ác liệt. Quân Pháp ngày càng lấn tới, đánh chiếm cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Khánh Hội, cầu Chữ Y. Quân Pháp và quân Anh mỗi lúc đánh nống ra. Nhưng đều bị các lực lượng của ta chặn đánh. Chiến sự diễn ra ác liệt ở khu vực cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Khánh Hội, cầu Chữ Y. Quân ta đã đột nhập vào thành phố, đánh giáp lá cà, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch. Quân Pháp tổn thất nặng nề ở Tân Định, Đa Kao. Trong cuộc chiến hết sức ác liệt này, nổi lên những chiến sĩ tự vệ công nhân lăn xả vào quân Pháp, quân Anh mà đánh. Chỉ trong vài ngày, giai cấp công nhân Sài Gòn lập xong 350 đội xung phong công đoàn và đội tự vệ. Chẳng mấy chốc, gần 140 xí nghiệp và công sở, hơn 20 kho tàng, gần 20 đầu máy xe lửa, hơn 50 tàu và hơn 200 xe ôtô của Pháp bị phá hủy. Trong xưởng máy, công nhân làm việc suốt ngày đêm rèn giáo, mác, cuốc, xẻng phục vụ chiến đấu. Khi quân Pháp áp sát Sài Gòn, lập tức công nhân chuyển máy móc, thiết bị ra ngoài, thành lập tại Dĩ An và An Phú Đông binh công xưởng lớn, kịp thời sản xuất vũ khí đánh địch.
Thanh niên và thiếu nhi Sài Gòn chiến đấu với tinh thần "bóp nát quả cam" noi gương Trần Quốc Toản năm xưa. Hình ảnh em thiếu niên Lê Văn Tám dũng cảm đốt cháy kho xăng địch tại Thị Nghè để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng Nhân dân. Nhìn kho xăng bốc cháy, tiếng đạn nổ, khói tỏa mịt mù, ai nấy tự hào về sức sống mãnh liệt của một em thiếu niên nghèo khổ của thành phố Sài Gòn"(2).
Tôi xin mượn những dòng hồi ký trên đây của đồng chí Hoàng Quốc Việt để kết thúc loạt bài viết này, và để hoàn toàn bác bỏ lập luận vô căn cứ của ông Phan Huy Lê nói rằng: "Lê Văn Tám là nhân vật được ông Trần Huy Liệu tự đặt tên", "là người không có thật" nên "không có sức sống bền bỉ giữa lòng dân".
-----------------------------------------------------------
(1) "Con đường theo chân Bác", Hoàng Quốc Việt, Nxb. Quân đội Nhân dân, HN, 2024, Tr. 94-95.
(2) "Con đường theo chân Bác", Hoàng Quốc Việt, Nxb. Quân đội Nhân dân, HN, 2024, Tr. 507.
(CATP) Ông Phan Huy Lê thanh minh rằng ông "không đạp đổ một biểu tượng hay một tượng đài yêu nước". Tuy nhiên, ông khẳng định Lê Văn Tám "không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật", "cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám". Và cái cách "nói lên sự thật" của ông là, do "Không được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực" nên biểu tượng và tượng đài Lê Văn Tám "không có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân". Tôi nghĩ hoàn toàn khác. Chính những điều lật sử mà ông Phan Huy Lê đem rêu rao rằng: "Lê Văn Tám là nhân vật không có thật", là "hình tượng không có thật" mới thoát ly cơ sở khoa học và không khách quan, chân thực.
TRẦN HỮU PHƯỚC (Nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng các Khu di tích lịch sử Cách mạng miền Nam)