Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

Thứ Năm, 30/04/2026 06:06

|

(CATP) Nói đến tượng đài, người ta thường nghĩ đến những bức chân dung hoành tráng được chạm khắc bằng chất liệu vật thể, khá phổ biến ở nước ta. Nhưng còn có một loại tượng đài khác, ít ai nhìn thấy, được tạc bởi chất liệu vô hình - phi vật thể; ấy là những áng văn chương bất hủ, ngợi ca những con người bất tử, khắc vào lòng người niềm tôn kính, ngưỡng mộ đến muôn đời. 

Về phương diện này, có thể nói Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân được coi như tượng đài sừng sững về anh Giải phóng quân trong nền thơ chống Mỹ. Bài thơ ra đời vào thời điểm lịch sử đậm đặc không khí sử thi: Cuộc Tổng tiến công nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, tác giả trong đoàn quân ra trận. Năm ấy, có nhiều nhà thơ viết về anh Giải phóng quân - tâm điểm nóng của cảm hứng nghệ thuật, nhưng đến Lê Anh Xuân mới là người thể hiện một cách hùng hồn nhất, chân thực và đúng tầm vóc nhất. Sau sáng tác này, nhà thơ anh dũng hy sinh trước cửa ngõ Sài Gòn như một chiến sĩ, hóa thân vào tượng đài do chính mình tạo ra.

Đứng trước tượng đài kỳ vĩ, hào sảng ấy, ta thấy Lê Anh Xuân tỏ ra rất nhạy cảm, tinh tế trong việc nắm bắt cái cụ thể diễn ra nơi chiến trường ác liệt. Và nếu không phải là nhà thơ sống sâu với hiện thực, không lăn xả vào cuộc chiến đấu của dân tộc thì cũng không bao giờ có được cái cụ thể bi tráng như thế. Đó là hình ảnh anh Giải phóng quân chiến đấu và hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất. Anh hy sinh trong tư thế tiến công quân thù:

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi, nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.

Bằng bút pháp tạo hình độc đáo, Lê Anh Xuân đã tái hiện, nâng lên thành hình tượng sinh động, giàu sức ám, gợi: Nhà thơ sử dụng nhiều động từ liên tiếp trong từng khổ thơ và trong mỗi dòng thơ. Những động từ ấy làm hiện lên trước mắt người đọc hành động mau lẹ, quả cảm, khẩn trương cũng như tư thế hy sinh "khác người", hy sinh trong thế đứng "nổ súng tiến công" của anh Giải phóng quân. Tư thế đó khiến kẻ thù phải "hốt hoảng xin hàng", "sụp xuống chân Anh tránh đạn". Một sự đối lập tuyệt đối giữa chính nghĩa với phi nghĩa, giữa cao thượng với thấp hèn qua lăng kính của một nhà thơ trẻ nơi chiến trường mà không phải ai cũng viết ra được. Đoạn thơ trên, theo chúng tôi, cũng là thước phim tư liệu vô giá ghi lại khoảng khắc đặc biệt trong chiến tranh. Để có nó, Lê Anh Xuân đã đổi cả máu xương của mình chứ không đơn thuần chỉ dựa vào trí tưởng tượng. Hình ảnh: "Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng" thể hiện sự quan sát tinh tế, sắc sảo của tác giả; câu thơ đầy chất lãng mạn mà vẫn rất hiện thực (hiện thực nơi chiến trường). Nhà thơ không tô hồng cái chết của người chiến sĩ mà đã cách điệu - lý tưởng hóa về cái chết oanh liệt, đầy tự hào ấy. Đó là cái chết vẻ vang, chết vì nghĩa lớn, chết theo tinh thần: "Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc..." của cha ông.

Giải phóng quân tiến công sân bay Tân Sơn Nhất tháng 4/1975 Ảnh: QUANG THÀNH

Xây dựng tượng đài bằng nghệ thuật ngôn từ, nhà thơ không chỉ gợi, tả mà còn phải biết cảm, biết luận, biết suy tưởng - kết nối, thì chân dung nhân vật mới vừa bay bổng lại vừa lắng sâu. Ở đây, Lê Anh Xuân tỏ ra nhuần nhuyễn trong sử dụng biện pháp so sánh nhằm hướng tới cảm hứng ngợi ca; đối tượng đưa ra so sánh mang tầm vóc kỳ vĩ, oai hùng. Hình ảnh so sánh luôn gắn với hiện thực cuộc kháng chiến và sự chân thực trong cảm xúc:

Anh tên gì hỡi anh yêu quý

Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng.

Chính tầm vóc miền Nam - Thành đồng Tổ quốc đã nâng hồn thơ Lê Anh Xuân, tạo nguồn cảm hứng vô tận trong sáng tác của anh. Đồng thời, cũng phải thừa nhận rằng, những nét đặc tả độc đáo trong bài thơ đã gieo vào người đọc những rung cảm mạnh mẽ. Nhà thơ không dừng lại ở sự miêu tả, mà cao hơn còn khai triển vào chiều sâu hình tượng, nâng hình tượng lên tầm lý tưởng - khái quát hóa:

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng - đứng - Việt - Nam tạc vào thế kỷ:

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

Cặp từ "không" - "chẳng" phủ nhận toàn bộ lợi ích riêng tư của anh Giải phóng quân. Anh chiến đấu và hy sinh một cách tự nguyện, thanh thản, không đòi hỏi, không tính toán thiệt hơn. Đó là phẩm chất cao đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ. Nhưng phủ định là cốt để khẳng định và khái quát ở tầm độ cao hơn, kỳ vĩ hơn: "Chỉ để lại cái dáng - đứng - Việt - Nam tạc vào thế kỷ”, tức tạc vào cõi vô hình, tạc vào thời gian vĩnh hằng, bất biến; kiểu tạc tượng độc đáo như thế chỉ có thể xuất hiện trong loại hình nghệ thuật ngôn từ mà thôi; cụm từ "lên đường" gợi cảm giác siêu thoát, nhẹ nhàng và không kém phần bay bổng, thi vị.

Viết về anh Giải phóng quân, các nhà thơ thường chú ý khai thác những chi tiết hết sức đơn sơ, bình dị mà rất đỗi thân thương, trìu mến như chiếc mũ tai bèo: "Ôi chiếc mũ vải mềm dễ thương như một bàn tay nhỏ”, đôi dép cao su: "Vẫn đôi dép lốp chiến trường / Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy"(Tố Hữu). Lê Anh Xuân cũng không bỏ qua những chi tiết tiêu biểu này và anh đã có được mạch suy ngẫm vừa sâu vừa độc đáo: Từ đôi dép cao su, nhà thơ liên tưởng đến sức mạnh diệu kỳ của lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu dũng cảm của anh Giải phóng quân:

Như đôi dép dưới chân anh giẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị sáng trong

Câu thơ bắt đúng mạch nguồn sức mạnh thời đại: chính nghĩa thắng phi nghĩa; tinh thần, lý tưởng thắng vũ khí tối tân hiện đại. Cách khái quát này mới nghe có vẻ duy ý chí, nhưng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, yếu tố tinh thần được coi như cội nguồn của sức mạnh vật chất; thiếu nó ta khó thắng được Mỹ - một siêu cường đế quốc có tiềm lực kinh tế gấp chúng ta rất nhiều lần.

Để tạc tượng đài người chiến sĩ, Lê Anh Xuân thường sử dụng các mô típ quen thuộc như "dáng đứng" (mô típ tư thế), "thế kỷ” (mô típ thời gian). Dưới ngòi bút của anh, những chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc được tái hiện trong tư thế bất khuất, hiên ngang, đầy bi tráng. Tư thế ấy tồn tại vĩnh hằng với thời gian, lưu danh muôn đời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Có thể nói đến bài Dáng đứng Việt Nam, lần đầu tiên trong nền thơ ca Việt Nam chống Mỹ, sừng sững một tượng đài bất tử về người chiến sĩ Giải phóng quân vô danh; trở thành chân dung, khí phách của một đất nước, một thời đại:

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân

Tên Anh đã thành tên Đất nước...

Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

Âm hưởng chủ đạo quán xuyến cả bài thơ vẫn là khúc tráng ca hào sảng, rạo rực, đậm sắc màu sử thi; âm hưởng ấy tô điểm cho bức tượng đài vừa có cái phẩm chất "bình dị, sáng trong" của anh Bộ đội Cụ Hồ, vừa có cái tự nguyện, vô tư, đầy trách nhiệm của nhân vật Ông Gióng trong truyền thuyết dân gian; lại vừa có cái dũng khí sẵn sàng xả thân của những nghĩa sĩ trong "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu. Một điều thú vị là, trên quê hương Đồng khởi - Bến Tre, trong hai thế kỷ xuất hiện hai nhà thơ tạc vào văn chương những tượng đài liệt sĩ oai phong, lẫm liệt rất đáng tự hào.

Bình luận (0)

Lên đầu trang