Tháng Tư, trời Nam nhớ Bác!

Thứ Năm, 30/04/2026 06:00

|

(CATP) ​Nhìn lại hành trình gian khổ mà hào hùng ấy, chúng ta càng thấu cảm sâu sắc rằng: Độc lập, tự do và thống nhất không chỉ là thành quả của biết bao xương máu, mà còn là sự kết tinh từ tầm nhìn thiên tài và tình yêu thương vô bờ bến của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho miền Nam ruột thịt.

Những ngày cuối tháng Tư năm 2026, khi những cánh hoa phượng bắt đầu chớm thắp lửa trên khắp các nẻo đường, cả dân tộc Việt Nam lại bồi hồi sống trong không khí của những ngày hội lớn. Đây là thời khắc thiêng liêng kỷ niệm 51 năm non sông nối liền một dải và tròn nửa thế kỷ Sài Gòn kiêu hãnh mang tên Thành phố Hồ Chí Minh. Nhìn lại hành trình gian khổ mà hào hùng ấy, chúng ta càng thấu cảm sâu sắc rằng: Độc lập, tự do và thống nhất không chỉ là thành quả của biết bao xương máu, mà còn là sự kết tinh từ tầm nhìn thiên tài và tình yêu thương vô bờ bến của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho miền Nam ruột thịt.

1. Hơn một thế kỷ trước, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã xuống tàu ra đi với một khát vọng duy nhất: Tìm lại hình hài cho Tổ quốc đang bị áp bức bởi xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp.

"Đất nước đẹp vô cùng.

Nhưng Bác phải ra đi

Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác!

Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất

Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre..."

(Người đi tìm hình của Nước - Chế Lan Viên)

Suốt những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, hình ảnh miền Nam luôn đau đáu trong trái tim Người. Khi nước nhà vừa giành độc lập, thực dân Pháp lại nổ súng xâm lược Nam Bộ, nỗi đau ấy càng trở nên sâu thẳm. Người từng khẳng định: Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày Người ăn không ngon, ngủ không yên. Đối với vị Cha già dân tộc, miền Nam không phải là khái niệm địa lý xa xôi mà là máu thịt, là anh em trong một gia đình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các Anh hùng, Dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc ngày 28/02/1969. Ảnh tư liệu

"Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha

Bác nghe từng bước trên tiền tuyến

Lắng mỗi tin mừng tiếng súng xa."

(Bác ơi! - Tố Hữu)

Người đã đúc kết một chân lý bất biến: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi". Lời khẳng định ấy trở thành điểm tựa tinh thần thép cho đồng bào miền Nam đi trước về sau trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ giành lại độc lập tự do cho dân tộc.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc lịch sử với siêu cường đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là "Tổng công trình sư” của đường lối kháng chiến. Với tầm nhìn chiến lược, Người đã sớm nhận diện dã tâm của đế quốc Mỹ và dự báo chính xác những bước ngoặt thời đại. Ngay từ khi tiếng súng Điện Biên Phủ vừa dứt, Người đã nhắc nhở quân dân ta phải chuẩn bị cho cuộc kháng chiến mới vì đế quốc Mỹ đang dần biến thành kẻ thù chính trực tiếp.

Sự thiên tài của Người còn thể hiện ở khả năng khơi dậy sức mạnh tổng hợp từ khối đại đoàn kết toàn dân. Lời kêu gọi "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" đã biến thành ý chí sắt đá, khiến những con người chân trần trở thành những chiến sĩ có chí thép.

"Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai!"

(Theo chân Bác - Tố Hữu)

Dưới sự dẫn dắt của Người, hậu phương lớn miền Bắc luôn sẵn sàng xẻ dọc Trường Sơn vì miền Nam ruột thịt. Người không chỉ chỉ đạo quân sự mà còn khéo léo vận động sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, biến cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Nhân dân Việt Nam thành biểu tượng của lương tri và phẩm giá con người trên toàn thế giới.

Bến Nhà Rồng, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

2. Trong những năm tháng cuối đời, dù sức khỏe suy giảm, mỗi khi tỉnh dậy Người đều hỏi thăm tin tức chiến sự miền Nam. Nỗi niềm chưa được vào thăm đồng bào miền Nam, chưa được tận mắt chứng kiến ngày sum họp là một nỗi day dứt khôn nguôi của Người. Năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng - Sài Gòn, Bác ra đi tìm đường cứu nước. Cả cuộc đời Bác luôn cháy bỏng khát vọng độc lập và thống nhất, nhưng định mệnh lịch sử đã tạo nên một khoảng lặng đau nhói: Tháng 9/1969, Bác đã về với "Mác - Lênin, thế giới người hiền".

Sáu năm sau đó, tháng 4/1975, niềm mong ước của Bác trở thành sự thật - miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, hai miền Nam - Bắc sum họp một nhà. Nhưng đau xót thay, Bác đã mãi mãi không thể thực hiện chuyến tàu ngược lại để về với Sài Gòn - nơi Người khởi đầu hành trình vạn dặm. Ngay trong ngày 30/4/1975, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết nên những giai điệu rung động: "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng/Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng...".

Tuy nhiên, nếu bình tâm nhìn lại dưới góc độ văn hóa tâm linh dân tộc, việc Bác Hồ yên nghỉ ở Hà Nội năm 1969 mang một ý nghĩa thiêng liêng và sâu thẳm. Có lẽ, Bác chọn dừng chân ở nơi địa đầu Bắc Bộ là để từ tầm cao của Ba Đình lộng gió, từ nơi miền Bắc xa xôi, linh hồn Người có thể trọn vẹn nhìn thấy miền Nam giải phóng rõ hơn. Ở vị thế ấy, đôi mắt của vị Lãnh tụ thiên tài có thể bao quát toàn cảnh non sông nối liền một dải rộng lớn hơn, thấy hình chữ S vẹn nguyên không còn vết cắt của đường vĩ tuyến.

Ngày 30/4/1975, khi cánh cổng Dinh Độc Lập sụp đổ, cũng là lúc Di chúc thiêng liêng của Người hóa thành khúc khải hoàn ca chói lọi. Bác không kịp trở lại bến Nhà Rồng với hình hài bằng xương thịt, nhưng anh linh Người đã hòa quyện vào sắc đỏ của hàng triệu lá cờ giải phóng. Từ cõi vĩnh hằng, Người đã thấy "Bắc - Nam sum họp xuân nào vui hơn". Khoảng cách địa lý lúc này không còn ý nghĩa, bởi trong giờ phút non sông liền một dải, Người chính là biểu tượng bất diệt của sự thống nhất, là người nhạc trưởng vĩ đại dẫn dắt bản hùng ca hòa bình vang mãi non sông. Hình ảnh Bác vẫn như đang cùng chúng cháu hành quân, hiện diện trên từng khuôn mặt rạng rỡ của người dân Sài Gòn ngày toàn thắng.

3. Tháng 7/1976, Quốc hội khóa VI đã chuẩn y việc đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là sự ghi nhận trang trọng nhất, là đóa hoa thơm ngát nhất mà Nhân dân miền Nam kính dâng lên Người. Trải qua 50 năm mang tên Bác, Thành phố đã không ngừng phát triển, từ một đô thị hằn sâu vết tích chiến tranh đã vươn mình trở thành đầu tàu kinh tế, trung tâm văn hóa và đổi mới sáng tạo của cả nước.

Hành trình hơn nửa thế kỷ qua là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của một "Thành phố rực rỡ tên vàng". Tinh thần năng động, dám nghĩ, dám làm và lòng nhân ái của người dân nơi đây chính là sự tiếp nối di sản quý giá của Người. Thành phố không chỉ phát triển về hạ tầng hiện đại mà còn chú trọng xây dựng Không gian văn hóa Hồ Chí Minh - nơi những giá trị tư tưởng của Người thấm sâu vào nếp sống, cách nghĩ của mỗi người dân, biến niềm tin thành hành động kiến thiết.

Nhìn lại chặng đường hơn nửa thế kỷ non sông liền một dải, chúng ta càng tự hào về tầm vóc ngày nay của dân tộc. Những dự báo của Bác về ngày thống nhất, về sự sụp đổ của thế lực xâm lược đã trở thành hiện thực huy hoàng. Tình cảm của Người dành cho miền Nam và sự kính yêu của đồng bào miền Nam dành cho Người đã tạo nên một sợi dây liên kết tâm linh vững chắc, giúp dân tộc vượt qua mọi thác ghềnh.

"Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng."

(Viếng lăng Bác - Viễn Phương)

Giá trị di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho đất nước ta, dân tộc ta là nguồn cảm hứng bất tận cho tương lai. 50 năm vinh dự mang tên Người, Thành phố hôm nay đang đứng trước vận hội mới, quyết tâm xây dựng một đô thị thông minh, hiện đại, nghĩa tình, xứng đáng với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" mà Người từng khen tặng.

Khép lại những trang sử vàng, chúng ta bước tiếp với niềm tin vào một Việt Nam "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Hình bóng Bác Hồ cùng khát vọng thống nhất vĩnh cửu sẽ luôn là ngọn đuốc dẫn đường, để Thành phố Hồ Chí Minh mãi mãi rực sáng giữa lòng dân tộc và bạn bè quốc tế. Để nay, giữa trời phương Nam cháu con lại nhớ về Bác kính yêu trong ngày non sông trẩy hội.

Bình luận (0)

Lên đầu trang