Ban tuyên truyền lúc bấy giờ quy tụ nhiều gương mặt văn nghệ sĩ tên tuổi như các ông: Ba Danh, Tám Du, Tư Xe, Triệu An, Hoàng Tuyển, Khương Mễ, Mai Lộc, Hoàng Việt, Mặc Khải, Minh Lộc, Đoàn Giỏi, Huỳnh Văn Gấm, Lê Cao Thương, Lê Ba, Diệp Minh Châu… tập thể Văn nghệ sĩ tên tuổi lẫy lừng này được các cấp lãnh đạo rất xem trọng, đánh giá họ là một “binh chủng đặc biệt” có sức mạnh ngang một đoàn hùng binh.
Sự hiện diện của “binh chủng đặc biệt” này làm cho phong trào văn nghệ ở chiến khu Đồng Tháp phát triển lớn mạnh chưa từng có. Họ là những người đã góp phần cốt lõi làm nên nền văn hóa văn nghệ kháng chiến Nam Bộ.
Thường những người có tài cũng lắm tật, mỗi cá nhân là một “tinh cầu” riêng, nội cái chuyện thức khuya dậy trễ, bất tuân giờ giấc, sinh hoạt luộm thuộm, quân phong quân kỷ là chuyện khó bàn tới. Khoảng cách giữa “binh chủng đặc biệt” này với anh em bộ đội không thể đo lường bằng định lượng không gian, thời gian...

Cố thi sĩ Nguyễn Bính
Buổi đầu, họ gặp không ít khó khăn từ ánh nhìn không thiện cảm, sự khó chịu buộc phải kìm nén của mọi người xung quanh. Thành kiến đó không bao lâu được xóa dần khi CBCS Quân khu được đọc những bài thơ cha tôi mới sáng tác, được nghe nhạc Hoàng Việt, xem Ba Du, Tám Danh…, những nghệ sĩ bậc thầy biểu diễn. Mọi người nhận ra sự có mặt của “binh chủng đặc biệt” là rất quan trọng, rất cần thiết cho công cuộc chiến tranh vệ quốc của quân và dân ta.
Thời kỳ đó, việc in ấn rất khó khăn. Giấy, mực phải mua từ Sài Gòn chuyển về vùng tự do là một việc vô cùng nguy hiểm, có được một kiện giấy có khi phải đổi bằng máu xương đồng bào, đồng chí. Nhiều người bị bắt bớ giam cầm, có người phải hy sinh tính mạng. Trong số giấy mực quý hiếm đó, Quân khu đã dành in tập thơ “Sóng biển cỏ”, là tập thơ đầu tiên của cha tôi in trong chiến khu Đồng Tháp.
Lúc này, ông là cây bút chủ lực của tờ báo Tổ Quốc, do nhà thơ Bảo Định Giang phụ trách. Thời kỳ: Ở chòi hẹp mà hồn trùm vũ trụ/ trái tim đau nhưng thương cả loài người… (Báo Tổ Quốc- 1948). Được làm việc đúng với sở trường của mình, ông tận tụy cống hiến hết mình, để kịp cho ra nhiều sáng tác mới phục vụ kháng chiến. Hàng loạt tác phẩm mới như: Trường ca Đồng Tháp Mười, Cửu Long Giang, Sang máu, Đây Nam Bộ, Người của ngày mai, Con tằm, Những thanh gươm bén, Trăng kia đã đứng ngang đầu, Những dòng tâm huyết… lần lượt ra đời và đến tay bạn đọc.
Những ngày làm báo Tổ Quốc ở chiến khu Đồng Tháp, cha tôi với những đồng chí, đồng nghiệp của mình có khối chuyện để nhớ, phần lớn là những chuyện vui tếu táo, có chuyện cười ra nước mắt, ví như câu chuyện... muốn có thơ thì phải có trà, (theo lời kể của Nghệ sĩ Nhân dân Huỳnh Nga, năm đó anh còn là một cậu thiếu niên mới vào cơ quan, được mấy bác cho theo giúp đỡ chú Bính trong công việc sinh hoạt lặt vặt hàng ngày).
Khoảng năm 1949 -1950, chiến dịch Trà Vinh mở ra, đêm đêm tiếng súng công đồn nổ liên hồi. Tin chiến thắng dồn dập bay về căn cứ làm ai cũng nức lòng. Các bộ phận cơ quan tuyên truyền khu Tám với khí thế sục sôi, tập trung phục vụ thắng lợi chiến dịch. Lúc này, cha tôi làm Trưởng đoàn ca kịch của cơ quan tuyên truyền khu Tám, còn ông Tám Du làm phó đoàn. Cơ quan làm việc của cha tôi đóng quân trong khu vườn nhà thầy giáo Dương ở Tân Hòa (Đồng Tháp).
Một buổi trưa, ông Bùi Kinh Lăng, phụ trách nhà in Vệ quốc III, đóng quân ở kinh Cá Nhíp, cho giao liên mang thư vào Tân Hòa giao cho cha tôi, trong thư ông viết: “Bính ơi, quân ta nhổ bót Chông Nô rồi, tờ báo ngày mai dành nhiều khuôn cho chiến thắng đó. Tao chừa cho mày một khung ngang từ mười lăm đến hai mươi câu lục bát. Đến ba giờ chiều phải có bài để báo kịp lên khuôn. Cố gắng lên tao trả nhuận bút cho mày gói trà”.
Ngồi trong vườn cây xem thư, cha tôi bực mình gắt om: “Mẹ kiếp, lúc nào cũng như nước đổ vào đít, báo với chả chí, thơ với chả thẩn! Mười lăm hai mươi câu mà nó đòi ba giờ chiều phải có bài thì tìm đâu ra thơ kia chứ”? Nói xong cha tôi kêu Ấu (tên chú liên lạc, người khmer) qua bên nhà hàng xóm xem giờ giúp ông. Một lát sau Ấu quay lại báo với cha tôi: mười một giờ dư một khúc (11 giờ hơn). Nghe xong, ông không nhịn được cười.
Suy tư một lát, cha tôi gọi anh Huỳnh Nga pha cho ấm trà. Bên trong gói trà chỉ còn chút xíu, vừa đủ pha một ấm con con. Cha tôi là người kỹ tính trong cách thức uống trà, từ cành củi cho đến ấm chén. Củi nấu phải khô, tránh nấu nước pha trà bằng củi mãng cầu, bình bát khói có mùi hôi. Củi tre khói ngọt. Xoài khói đặc hăng, gắt, có dầu… Khi pha được ấm trà ngon, anh Huỳnh Nga cảm thấy sung sướng vì được cha tôi tưởng thưởng một cách xứng đáng bằng thái độ nâng niu trân trọng trước thành quả lao động của mình.
Ngày hôm trước, cha tôi có nghe kể lại chuyện bộ đội mình tràn vào bót Chông Nô, trèo lên nóc, nhổ bỏ cờ thực dân quăng xuống đất và nói: “Mày ăn cướp nước tao, còn cắm cờ làm như nước của mày!” Trong lúc cha tôi đang ngồi bó gối, gọi hồn nàng thơ, nhưng nàng còn đỏng đảnh ở đâu đó chưa chịu quay về. Cùng lúc, bổng bên nhà hàng xóm xảy ra chuyện hục hặc khi hai nhà chung nhau một sợi dây phơi quần áo, có cột chống ở giữa làm ranh giới. Song do hôm đó, nhà bên kia đồ nhiều hơn nên phơi lấn qua phần bên nhà này một cái khăn đỏ. Bên bị xâm chiếm lên tiếng: “Bà kia, bên ai nấy phơi sao lại lấn sang bên này. Còn cái khăn đỏ chót kia nữa, máy bay thằng giặc thấy, nghi là cờ rồi nó kêu bỏ bom thì sao?”. Vừa dứt câu, bà này vuốt chiếc khăn bỏ xuống đất, thế là đôi bên xảy ra giằng co, chẳng ai nhường ai.
Thấy cha tôi đang tập trung làm việc, anh Huỳnh Nga rón rén bưng trà ra khẽ khàng đặt ấm chén xuống trước mặt ông, lặng im đứng chờ xem cha tôi còn chuyện gì nhờ cậy. Bỗng ông vỗ đùi đánh đét một cái rất mạnh rồi reo lên: “Sư bố nó, thơ đây rồi!”. Ông hào hứng viết dòng đầu tiên cho tựa đề: “Đồn giặc cờ bay: Kia kìa đồn giặc cờ bay/ tại sao dám cắm cờ mày đất tao?... Trong lúc nghỉ tay, cha tôi hớp một ngụm trà, im không nói gì. Khi hớp một ngụm nữa, ông thốt lên: “sư bố! Chuyện gì vậy chú? trà ngon. Hết rồi, cháu vét. Còn phải nói, trà ngon cỡ này thì cố gắng vét thôi con ạ!”. Cái thời bưng biền kháng chiến, mọi thứ nhu yếu phẩm cần thiết luôn luôn ở tình trạng thiếu thốn, có được ngụm trà điếu thuốc lá là điều xa xỉ.
Trong lúc chờ thơ, chú giao liên bưng tô cơm nguội chan nước dừa ngồi ăn ngon lành. Cha tôi viết liên tục. Khoảng hơn giờ sau, ông đọc lại bài thơ, cho vào phong bì rồi đưa cho chú giao liên mang về, kèm theo mẫu giấy gửi cho ông Bùi Kinh Lăng, không quên đòi gói trà…nhuận bút: “Muốn có thơ thì phải có trà/ không thì thơ thẩn lấy đâu ra/ làm báo như mày thì nghỉ mẹ/đòi thơ như mày thì chết bố”.