Mùa nước gọi
Tiếng rao mời mua mớ cá linh vừa vớt của má Bảy cất lên giữa buổi sớm nghe mộc mạc nhưng ẩn chứa cả một miền ký ức đang trở mình. Sương còn đọng trên những cánh bông điên điển, mặt nước phẳng lặng, chỉ thỉnh thoảng gợn lên theo mái chèo. Mùi bùn non ngai ngái quyện trong gió sớm, theo con nước đưa về những con cá linh nhỏ xíu, ánh bạc lấp lánh dưới nắng mai.
Má Bảy ngồi bên rổ cá vừa đánh được, đôi tay thoăn thoắt như đã quen với công việc ấy suốt một đời người. Cá được lựa, rửa, xếp gọn vào rổ, rồi tiếng rao cất lên, hòa vào tiếng mái chèo, tiếng chim và hơi thở của buổi sớm trên dòng nước. Có những tiếng rao đi qua năm tháng rồi bỗng thành tiếng gọi của quê nhà. Nghe nó, người ta không chỉ nghĩ đến mớ cá linh tươi rói, đến nồi canh chua bông điên điển hay bữa cơm mùa nước nổi, mà còn vẳng trong đó tiếng gọi của những ngày xưa cũ. Một tiếng rao nhỏ bé vậy mà đủ sức đánh thức cả một miền ký ức của quê tôi.
Má Bảy kể, mùa nước nổi ngày trước khác bây giờ nhiều lắm. Ngày ấy, nước về đến đâu, đồng ruộng như mở ra đến đó, cá linh theo dòng nước từ sông tràn vào đồng, len qua những cánh ruộng mênh mang. Những cánh đồng mùa khô xanh màu lúa, đến mùa nước lại hóa thành một khoảng trời nước rộng dài, nơi người dân quê nhìn con nước mà đoán mùa, nhìn dòng chảy mà biết nước đang lên hay xuống. Họ quen với nước như quen với hơi thở của mình, biết khi nào nên giăng lưới, khi nào cần kéo vó, khi nào con nước bắt đầu rút khỏi đồng. Đất trời khi ấy như một cuốn lịch tự nhiên mà người quê đọc bằng mắt, bằng tai và bằng kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác.
Cá linh khi ấy không phải là sản vật xa lạ, mà gần gũi như rau trong vườn, cá dưới sông, như một phần tự nhiên của đời sống, ở ngay trước cửa nhà, dưới mé sông, trong những dòng nước tràn đồng. Mớ cá nhỏ bé ấy đi vào bữa cơm quê theo cách giản dị nhất: khi thì nấu canh chua, lúc kho mía, khi lại nấu cùng những thứ rau đồng vừa hái. Cá linh gặp bông điên điển thành một hương vị mà chỉ cần nhắc đến thôi, người xa quê đã thấy lòng mình chùng xuống. Có những món ăn chẳng cầu kỳ nhưng lại giữ được trong nó cả mùi đất, mùi nước và ký ức của một vùng quê.

Ngư dân đồng bằng đặt chà rào để bắt cá mùa lũ
Nhưng có lẽ điều má Bảy nhớ nhất không phải là món ăn, mà là những con người từng sống bên nhau qua bao mùa nước nổi. Má nhớ những ngày nước lớn, nhà này có gì sẽ chia cho nhà kia một ít; ai bắt được nhiều cá thì mang sang cho xóm giềng, ai có rau đem rau, có gì góp nấy. Ở quê, người ta sống với nhau tự nhiên như con nước lên xuống. Nhà bên có chuyện thì chạy sang, người này cần thì người kia giúp; cái tình cứ thế truyền từ người này sang người khác, qua chiếc xuồng, mái chèo, rổ cá hay mớ rau.
Người miền Tây từ bao đời đã biết sống cùng con nước. Nước khi hiền hòa, lúc hung dữ, khi đưa phù sa về bồi đắp ruộng đồng, đem cá tôm về cho những bữa cơm, lúc lại thử thách con người bằng những mùa nước lớn. Người quê học cách nhìn con nước để sống, học cách thuận theo tự nhiên để tồn tại và dựng xây cuộc đời. Nhưng rồi, qua năm tháng, họ nhận ra một điều giản dị mà sâu xa: Sống cùng nước cũng là học cách sống cùng nhau, bởi giữa mênh mông sông nước, chẳng ai có thể chỉ sống cho riêng mình.
Cái nghèo ngày trước có thể khiến người ta thiếu thốn nhiều thứ, nhưng lại nhân thêm cái tình, âm thầm làm nên cái nghĩa "tối lửa tắt đèn có nhau" mà người quê vẫn truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có những thứ hôm nay không còn dễ tìm thấy như xưa. Cá linh không phải lúc nào cũng đầy đồng, những mùa nước cũng mang theo nhiều thay đổi; còn những đứa trẻ quê ngày trước lớn lên bên con nước, bên chiếc xuồng, bên câu chuyện của ông bà, nay đã có thêm nhiều con đường khác để đi. Quê hương thay đổi theo năm tháng, giống như dòng sông không bao giờ đứng yên một chỗ. Nhưng mỗi khi một tiếng rao cũ vang lên giữa buổi sớm, ký ức vẫn có cách tìm đường trở lại, bởi có những điều tưởng đã khuất sau một mùa nước, nhưng chỉ cần nghe lại đúng một âm thanh, ngửi lại đúng một mùi hương, người ta bỗng thấy cả quê nhà hiện ra.
"Ai mua cá linh hông?", má Bảy lại rao, âm thanh bay qua mặt nước, mắc lại đâu đó trên những cành điên điển vàng hoa. Tiếng rao nhỏ bé mà nghe như tiếng gọi của mùa: Mùa nước gọi cá về, gọi những món ăn dân dã cùng ký ức về. Và sâu xa hơn, mùa nước gọi những con người từng sống bên nhau bằng nghĩa tình nhớ về một điều tưởng như rất đỗi bình thường: Trong những ngày vui, ngày khó, trong những buổi sớm đầy sương hay những chiều nước nổi, mình còn có nhau!
Má Bảy ngồi bên rổ cá, nhìn dòng nước đang chậm rãi trôi về phía xa. Có lẽ má cũng chẳng nghĩ tiếng rao của mình có gì đặc biệt; người quê vốn vậy, cứ sống, cứ làm, cứ thương nhau rồi để những điều ấy lặng lẽ ở lại, như con nước, như phù sa, như mùi cá linh trong nồi canh chua, như sắc vàng bông điên điển mỗi mùa nước nổi. Và ở lại như tiếng gọi thân thương giữa buổi sớm, để ai từng một lần lớn lên bên dòng nước nghe thấy cũng chợt nhận ra quê mình đang ở rất gần: "Ai mua cá linh hông?".

Cá linh lên đồng báo hiệu mùa nước nổi đã về
Người quê gọi nhau
Mùa nước nổi về, quê nhà như khoác lên mình màu áo khác. Những bờ ruộng thấp thoáng dưới làn nước, những hàng cây ven sông soi bóng, bông điên điển theo con nước mà vàng lên từng vạt. Má Bảy vẫn ngồi bên rổ cá linh, tiếng rao lúc gần, lúc xa theo chiều gió. Nhưng phía sau tiếng rao ấy không chỉ có một người phụ nữ luống tuổi kiếm sống qua ngày, mà là cả một xóm quê, nơi người ta vẫn quen gọi nhau bằng những tiếng giản dị mà ấm áp.
Dì Tư ở cách nhà má Bảy chẳng bao xa. Mỗi mùa nước về, dì lại có cái thú ngồi lựa cá, nhặt rau, vừa làm vừa nghe chuyện xóm làng. Có hôm má Bảy bán được mớ cá ngon, dì Tư mua chẳng bao nhiêu, nhưng lúc nào cũng lựa thêm vài con để dành cho người nhà; hôm khác, nhà dì Tư có nồi canh chua bông điên điển thì thế nào cũng nhớ phần má Bảy. Ở quê, người ta đâu cần nói với nhau những lời khách sáo, bởi nhiều khi chỉ cần cái rổ cá đặt trước cửa hay tô canh nóng đem sang cũng đủ thay cho câu hỏi: "Bữa nay khỏe hông?".
Dì Tư cười, kể chuyện ngày trước người quê sống với nhau dễ lắm. Nhà ai có đám, cả xóm cùng lo; ai đau ốm, người đem nồi cháo, người ghé hỏi thăm; mùa nước lớn, xuồng nhà này có thể chở cả những người bên kia qua một đoạn sông. Có những lúc chẳng ai giàu có hơn ai, nhưng hễ thấy người bên cạnh cần thì cứ giúp trước, chuyện còn lại tính sau. Cái tình ấy nằm trong cách người ta tự nhiên bước qua nhà nhau, chìa bàn tay ra rồi ở lại khi người khác còn cần.
Chú Ba là một người như vậy. Chú ít nói, làm gì cũng lặng lẽ, nhưng trong xóm có chuyện là thường thấy chú xuất hiện trước khi có người kịp gọi. Xuồng ai mắc lưới thì chú ghé gỡ, mái chèo ai gãy thì chú kiếm cây khác thay vào, nhà nào có việc nặng thì chú sẵn sàng đến phụ một tay. Có lần má Bảy đang loay hoay với mớ cá giữa lúc trời chuyển mưa, chú Ba chẳng nói gì, chỉ ghé lại kéo chiếc xuồng vào sát bờ, che giúp tấm bạt rồi mới quay đi. Người quê sống với nhau nhiều khi chẳng phải vì có nhiều để cho, mà bởi thấy người khác cần thì mình không thể làm ngơ.

Ngư dân buông lưới đánh bắt cá linh
Em Sấm cũng lớn lên giữa những con người ấy. Sấm còn trẻ, nói chuyện nhanh, làm việc cũng nhanh, có những điều người lớn kể, em chỉ nghe rồi cười, nhưng có những việc em làm lại giống hệt cách người quê vẫn sống từ bao đời. Má Bảy gọi một tiếng, Sấm chạy sang phụ lựa cá; dì Tư cần đem đồ qua nhà bên, Sấm tiện đường sẽ chở giúp; chú Ba đang sửa chiếc xuồng, em đứng bên đưa cây búa, giữ hộ miếng ván. Những việc nhỏ cứ nối nhau, chẳng ai dạy, nhưng rồi tự lúc nào đã thành một phần trong cách em đối xử với người chung quanh.
Có lần Sấm hỏi má Bảy sao cá linh năm nay ít hơn hồi trước. Má cười, nói con nước cũng như đời người, có mùa đầy, mùa vơi. Rồi má chỉ ra phía dòng sông, bảo rằng thứ đáng giữ không phải chỉ là con cá linh, mà còn là cái tình của những người từng sống nhờ con nước. Sấm im lặng nghe, có lẽ chưa hiểu hết lời má, nhưng em vẫn ngồi xuống phụ lựa cá. Một người già kể chuyện bằng ký ức, một đứa trẻ nghe chuyện bằng sự tò mò, giữa hai người là rổ cá linh nhỏ xíu mà trong đó như có cả một mùa quê đang nằm lại.
Có những giá trị không cần viết thành sách vẫn có thể truyền từ đời này sang đời khác, qua một bữa cơm, một chuyến đò, một lần ghé thăm, một tiếng gọi nhau giữa buổi chiều muộn, hay đơn giản chỉ là lúc thấy nhà bên đang gặp khó và bước sang thăm hỏi. Người quê vẫn nói "tối lửa tắt đèn có nhau", nhưng điều làm câu nói ấy bền bỉ được qua năm tháng chính là những việc rất nhỏ mà người ta làm cho nhau mỗi ngày. Tình nghĩa nằm trong bàn tay chìa ra đúng lúc, trong phần cá để dành, trong tô canh mang sang, trong tiếng gọi "má Bảy ơi!", "dì Tư ơi!", "chú Ba ơi!" vang lên giữa xóm quê.
Con nước rồi sẽ đổi dòng. Những mùa cá linh cũng sẽ đầy vơi theo đất trời. Những đứa trẻ như Sấm, em Lài rồi cũng lớn lên, có thể đi xa, có thể trở về, nhưng nếu trong ký ức còn giữ được tiếng rao của má Bảy, dáng dì Tư bên bếp lửa, bóng chú Ba trên chiếc xuồng nhỏ và những buổi chiều người trong xóm gọi nhau sang phụ một tay, thì quê nhà vẫn là nơi để người xa quê đau đáu nhớ về. Bởi quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi ta học được cách thương một người không phải ruột thịt. Và có lẽ, đó mới là thứ phù sa bền bỉ nhất mà những mùa nước nổi đã bồi đắp cho miền quê này.