Những con đường mở lối
Trên công trường cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, những nhịp cầu, nền đường hiện đại đang dần thành hình giữa cánh đồng đầu nguồn An Giang. Hơn một thập niên trước, việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân vùng đồng bằng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào Quốc lộ 1 cùng hệ thống phà, cầu thường xuyên quá tải.
Suốt nhiều năm, hạ tầng giao thông là điểm nghẽn lớn của ĐBSCL. Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi dày đặc khiến việc kết nối vùng gặp nhiều khó khăn. Bước ngoặt xuất hiện khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết không chỉ định hướng đầu tư mà còn tạo nên sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển. Từ chỗ đầu tư giao thông theo nhu cầu trước mắt, hạ tầng được xác định phải đi trước một bước, mở đường cho phát triển.
Từ chủ trương đó, hàng loạt dự án giao thông trọng điểm được triển khai với quy mô chưa từng có. Các tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, Mỹ Thuận - Cần Thơ, Cần Thơ - Cà Mau lần lượt hoàn thành hoặc đang được đẩy nhanh tiến độ. Cùng với đó, tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng đang mở ra trục động lực mới kết nối vùng biên giới Tây Nam với các trung tâm kinh tế và cảng biển của khu vực.

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã mở rộng không gian đô thị cho các tỉnh trong vùng
Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng cho rằng, cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của địa phương cũng như toàn vùng ĐBSCL. Tuyến đường không chỉ kết nối cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương với các trung tâm kinh tế lớn mà còn tạo điều kiện thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, thương mại, logistics và du lịch.
Không chỉ có An Giang, các địa phương trong vùng cũng đang hưởng lợi từ quá trình đầu tư hạ tầng quy mô lớn. Nếu như trước năm 2021, toàn vùng chỉ có khoảng 40km đường cao tốc thì đến nay mạng lưới cao tốc đã và đang hình thành với chiều dài trên 600km. Theo quy hoạch, đến năm 2030, ĐBSCL sẽ có khoảng 1.200km đường cao tốc, tạo nên hệ thống giao thông hiện đại và đồng bộ.
Chủ tịch UBND TP.Cần Thơ Nguyễn Cảnh Tuyên nhận định, các tuyến cao tốc đang làm thay đổi căn bản khả năng kết nối của vùng. Những công trình giao thông trọng điểm không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển mà còn kết nối các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển và sân bay, tạo điều kiện để Cần Thơ phát huy vai trò trung tâm động lực của vùng.
Điều đáng chú ý là tư duy phát triển hạ tầng hiện nay không còn giới hạn ở đường bộ. Cùng với các tuyến cao tốc, nhiều dự án nâng cấp luồng hàng hải, cảng biển, cảng sông và vận tải thủy nội địa cũng được triển khai đồng bộ. Đặc biệt, dự án Cảng biển Trần Đề được kỳ vọng trở thành cửa ngõ quốc tế của vùng, giúp hàng hóa xuất khẩu của ĐBSCL tiếp cận trực tiếp thị trường thế giới, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Bạn đọc ở ĐBSCL theo dõi sự phát triển của vùng thông qua báo chí
Thuận thiên từ tư duy đến hành động
Những ngày đầu mùa mưa, trên những cánh đồng ven biển An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, màu xanh của lúa đang phủ kín những thửa ruộng từng trải qua nhiều tháng nước mặn xâm nhập. Chỉ vài tháng nữa thôi, khi vụ lúa kết thúc, những cánh đồng ấy lại đón nước mặn vào nuôi tôm. Mô hình luân canh tôm - lúa vốn được xem là giải pháp thích ứng của người dân trước biến đổi khí hậu, giờ đây đã trở thành biểu tượng của tư duy phát triển mới ở ĐBSCL.
Những đợt hạn hán, xâm nhập mặn lịch sử trong các năm gần đây từng gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống người dân. Thực tiễn ấy cho thấy không thể phát triển bền vững nếu chỉ tìm cách chống chọi với tự nhiên. Bước ngoặt lớn xuất hiện khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Lần đầu tiên, triết lý "thuận thiên" được xác định là định hướng xuyên suốt cho sự phát triển của toàn vùng. Thay vì cố gắng thay đổi tự nhiên bằng mọi giá, đồng bằng lựa chọn thích ứng, khai thác những lợi thế vốn có của tự nhiên để tạo động lực phát triển mới.
Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Minh Hoan nhiều lần nhấn mạnh rằng, thuận thiên không phải là chấp nhận khó khăn hay buông xuôi trước biến đổi khí hậu. Điều quan trọng là phải hiểu thiên nhiên, tôn trọng quy luật tự nhiên để lựa chọn mô hình phát triển phù hợp. Theo ông, ĐBSCL cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, lấy thị trường làm trung tâm, lấy người nông dân làm chủ thể và lấy giá trị gia tăng làm mục tiêu.
Từ tư duy đó, nhiều mô hình sản xuất mới đã hình thành và phát triển mạnh mẽ. Ở các tỉnh ven biển, mô hình tôm - lúa không chỉ giúp người dân thích ứng với điều kiện xâm nhập mặn mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với độc canh cây lúa trước đây. Bên cạnh đó, các mô hình tôm - rừng, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn và sản xuất sinh thái cũng ngày càng được nhân rộng, vừa bảo vệ môi trường vừa nâng cao giá trị sản phẩm.

ĐBSCL vẫn là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước
Theo TS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về môi trường ĐBSCL, thành công lớn nhất của vùng trong những năm qua không chỉ nằm ở các công trình hay dự án cụ thể mà chính là sự thay đổi trong tư duy phát triển. Nước mặn không hoàn toàn là kẻ thù, lũ cũng không hoàn toàn là thiên tai. Nếu biết thích ứng và khai thác hợp lý, những yếu tố từng được xem là bất lợi hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực cho phát triển.
Không chỉ thay đổi phương thức sản xuất, ĐBSCL còn đang từng bước ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào nông nghiệp. Nhiều địa phương triển khai hệ thống quan trắc môi trường, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, quản lý vùng trồng và liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng phát huy hiệu quả.
Những kết quả ấy có ý nghĩa đặc biệt khi ĐBSCL vẫn là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, đóng góp hơn một nửa sản lượng lúa, khoảng 70% sản lượng trái cây và phần lớn sản lượng thủy sản xuất khẩu. Đây không chỉ là vựa lúa, vựa trái cây và trung tâm thủy sản của Việt Nam, mà còn giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và đóng góp lớn cho xuất khẩu.
Từ những cánh đồng tôm - lúa ven biển đến các vùng chuyên canh trái cây, thủy sản ứng dụng công nghệ cao, tư duy thuận thiên đang từng bước đi từ chủ trương đến thực tiễn. Sự thay đổi ấy không chỉ giúp ĐBSCL thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu mà còn mở ra con đường phát triển bền vững cho tương lai.
Sự đồng hành của báo chí
Trong hành trình phát triển của ĐBSCL, báo chí Cách mạng Việt Nam luôn là người bạn đồng hành tin cậy của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân trong vùng. Không chỉ phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân, báo chí còn là cầu nối giữa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước với thực tiễn cuộc sống; là kênh thông tin quan trọng giúp các cấp, các ngành nhận diện những khó khăn, bất cập để kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện cơ chế, chính sách.
Nhiều năm qua, những vấn đề lớn của ĐBSCL như biến đổi khí hậu, sạt lở bờ sông, bờ biển, phát triển hạ tầng giao thông, chuyển đổi mô hình sản xuất, liên kết vùng hay xây dựng nông thôn mới luôn nhận được sự quan tâm sâu sát của các cơ quan báo chí. Thông qua những tuyến bài điều tra, phản ánh, phân tích chuyên sâu, báo chí đã góp phần lan tỏa những mô hình hay, cách làm hiệu quả, đồng thời tạo sự đồng thuận xã hội trong quá trình triển khai các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đối với vùng đất Chín Rồng.
Là cơ quan báo chí có truyền thống gắn bó với Nam Bộ, Báo Công an TPHCM (nay là Chuyên đề Công an TPHCM) trong nhiều năm qua đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển của ĐBSCL. Từ những vùng biên giới đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp đến các địa phương ven biển như TP.Cần Thơ, Cà Mau.. Nhiều tuyến bài đã phản ánh sinh động sự chuyển động của vùng đất cuối nguồn sông Mekong. Những câu chuyện về xây dựng hạ tầng, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển nông nghiệp xanh, giữ gìn an ninh trật tự hay chăm lo đời sống Nhân dân không chỉ góp phần lan tỏa những giá trị tích cực mà còn tiếp thêm niềm tin, khát vọng phát triển cho địa phương và người dân.
Đó cũng chính là trách nhiệm của báo chí Cách mạng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: đồng hành cùng sự phát triển của đất nước, góp phần đưa chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống và chuyển tải tiếng nói từ thực tiễn đến các cơ quan hoạch định chính sách.
Dưới ánh sáng Nghị quyết 13-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ và Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, vùng đất Chín Rồng đang cùng cả nước tự tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của phát triển xanh, thịnh vượng và bền vững.
Và trên hành trình ấy, khát vọng vươn lên của hơn 17 triệu người dân ĐBSCL tiếp tục hòa cùng nhịp đập phát triển của đất nước, viết tiếp những trang mới đầy tự hào trên vùng đất được bồi đắp bởi phù sa sông Mekong, nơi đang từng ngày vươn mình mạnh mẽ trong dòng chảy của kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.