Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đ/c Lê Duẩn bí mật hoạt động tại vùng đất thiêng liêng này để lèo lái con thuyền Cách mạng Miền Nam vượt qua phong ba bão táp của thời kỳ đen tối nhất.
Chuyến tập kết… ngược
Vào một đêm mùa xuân giữa hạ tuần tháng 01/1955, sau khi rời vàm sông Ông Đốc, đóng giả vai lên đường đi tập kết ra Miền Bắc cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Trung ương Cục như Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Kỉnh..., đ/c Lê Duẩn đã bí mật rời chiếc tàu viễn dương chở đoàn người tập kết của nước Cộng hòa Nhân dân Ba Lan mang tên tướng Kilinsky (tàu Kilinsky) để quay trở lại vùng đất mũi. Cán bộ và người dân gọi đây là chuyến "tập kết ngược" của đ/c Bí thư Xứ ủy Nam Bộ.
Suốt hơn hai năm trời nằm sương gối đất, dãi nắng dầm mưa, vượt qua biết bao gian khó hiểm nguy, đ/c Lê Duẩn xuất hiện tại nhiều địa phương - từ Hòn Khoai đến cù lao Thới Sơn, từ đồng bằng châu thổ sông Cửu Long đến vùng cao nguyên Lâm Đồng, từ thành phố Sài Gòn đến Thủ đô Nam Vang (Vương quốc Campuchia). Tuy nhiên, bán đảo Cà Mau và vùng Tây sông Hậu là nơi đ/c Bí thư Xứ ủy Nam Bộ hoạt động lâu ngày nhất.

Đ/c Lê Duẩn cùng các lãnh đạo chủ chốt của Xứ ủy Nam Bộ
Qua thống kê của một số cán bộ đã từng được tiếp cận với đ/c Lê Duẩn, trong thời gian bí mật hoạt động ở tỉnh Cà Mau năm 1955, ông đã ở 18 nơi thuộc phạm vi 14 xã, 5 huyện. Những địa phương ở nhiều nhất, lâu nhất là các huyện Cái Nước, Ngọc Hiển và Trần Văn Thời. Do thời gian trôi qua quá lâu, những việc nhớ lại, tuy có sự "đại đồng tiểu dị”, nhưng về cơ bản con số nói trên hoàn toàn trùng khớp với kết quả công tác sưu tầm "địa chỉ đỏ” của đội ngũ cán bộ ngành bảo tàng Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau. Đến nay, toàn bộ danh sách của 17 hộ dân chí cốt với Cách mạng đã có công nuôi dưỡng, chở che đ/c Lê Duẩn trên địa bàn tỉnh đã được nguyên Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký giấy xác nhận để được hưởng chính sách đền ơn đáp nghĩa.
Trong chuyến đi khảo sát dài ngày này, ngồi trên chiếc vỏ lãi nhỏ bé len lỏi trong các con rạch chật hẹp mọc đầy cây hoang cỏ dại, chúng tôi đã phải dọn lối đi trên những mảng rau dừa và lục bình dày đặc để đến thăm nhiều gia đình cơ sở cách mạng trước đây đ/c Lê Duẩn từng tá túc. Tại một số nơi, cho đến nay những dấu tích từ cái chòi con đến hầm bí mật đã một thời che giấu vị lãnh đạo Xứ ủy Nam Bộ vẫn còn lưu giữ.
Và những mẩu chuyện bên lề
Đến huyện Trần Văn Thời, chúng tôi đã tới thăm gia đình ông bà Bảy Tốt (Bùi Văn Tốt) ở ấp Vườn Tre, nay gọi là ấp Kinh Tư thuộc xã Trần Hợi. Ông Bảy đã qua đời sau ngày đất nước thống nhất. Còn bà Bảy mất hồi năm 1985. Chúng tôi ngồi quây quần với những người trong gia tộc trên nền cũ của ngôi nhà nhỏ 3 gian và cùng bồi hồi khi nghe kể lại chuyện xưa: Vào mùa xuân năm 1955, ngay tại vùng đất này, đ/c Lê Duẩn đã tiến hành cải trang để hoạt động bí mật. Từ tên gọi "Anh Ba" thân thương đối với mọi người trong kháng chiến chống Pháp vùng "Vành đai đỏ”, nay ông lại hóa thân thành một lão nông với biệt danh "Chú Chín". Từ gương mặt tỏa sáng sự tinh anh từng được tôn vinh là "ngọn đèn hai trăm nến" (deux cents bougies), giờ "Chú Chín" buộc phải để bộ râu dài lượt thượt như hình ảnh của vị lão trượng trong truyện Lục Vân Tiên. Và cũng từ dạo ấy, "Chú Chín" phải ăn trầu, hút thuốc, đầu đội nón lá và bịt khăn rằn, mặc áo quần bà ba bằng vải hột giền, đựng đồ đạc trong bao cà-ròn không khác gì những ông già "Hai Lúa" ở miệt U Minh.

Ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Trác, nơi cố
Tổng Bí thư Lê Duẩn từng tá túc để hoạt động Cách mạng
Để đảm bảo cho sự an toàn tuyệt đối, ở đây ban ngày đ/c Lê Duẩn làm việc và nghỉ ngơi trên bộ ván kê kín đáo ở trong buồng. Lúc đêm về, khi bốn bề tĩnh lặng, người đứng đầu Xứ ủy mới dám ra ngoài hàng hiên rảo bước quanh nhà để vận động và tìm những phút giây thư giãn. Hàng ngày, quần áo của "Chú Chín" được giặt giũ và phơi phóng ở một nơi kín đáo có canh phòng. Những lúc dùng bữa, cơm nước được đưa qua khung cửa hẹp khoét trên vách lá.
Rời ấp Vườn Tre, lướt trên những giề lục bình đơm bông tím ngắt, chiếc xuồng máy vượt qua Rạch Ruộng, kênh Hào Sại, Sáu Thước, Kênh Tư... đưa chúng tôi đến thăm gia đình vợ chồng bác Năm Đô (Phạm Văn Đô) ở ấp Đòn Dong, vẫn thuộc xã Trần Hợi. Tới nơi, chúng tôi được biết bác Năm trai mất.
Xưa kia ấp Đòn Dong chỉ có mấy chục gia đình và "Chú Chín" từng có hai lần tá túc tại nhà bác Năm Đô. Trong khoảnh khắc được gợi nhớ lại những kỷ niệm xưa, bác Năm gái xúc động kể: "Ngày trước ông Chín ở nhà tôi, hồi đó bà con nơi đây còn nghèo lắm. Ngôi nhà cũ của vợ chồng tôi đã bị bom Mỹ ném sập, nay không còn. Trong thời gian ở đây, ông Chín đóng vai cha chồng tôi. Người ổng ốm nhom, đen đúa, xấu xí, để râu dài và nói tiếng rất khó nghe. Vợ chồng tôi làm ruộng, đánh bắt cá nuôi ổng. Suốt ngày ổng làm việc ở trong buồng, cặm cụi viết lách trên cái rương gỗ được kê trên giường, đặt bên cạnh tấm vách có khoét các lỗ nhỏ cho ánh sáng lọt vào".
Tiếp đó, anh Phạm Hoàng Tân, người con thứ mười trong gia đình bác Năm, đưa chúng tôi ra mảnh vườn trồng cây ăn quả ở phía sau nhà. Đến bên cạnh một cây xoài lão, thân bị ngã nằm chắn ngang mương vườn, anh Tân cho biết khi xưa chỗ này có một cái chòi nhỏ, bên trong có kê một bộ ván và ở phía bên dưới là hầm bí mật của "Chú Chín". Giờ đây, cả cái chòi, bộ ván và hầm bí mật không còn nữa. Di vật còn sót lại trước mắt chúng tôi là thân cây xoài bị trốc gốc nằm bên bụi trúc cành lá xác xơ trong bóng chiều bảng lảng.

Vợ chồng ông Phạm Văn Nghiệp - người được thừa kế ngôi nhà từng che giấu "Chú Chín"
Một điều đặc biệt lý thú nữa là chúng tôi lần theo bước chân năm xưa của đ/c Lê Duẩn trên những con kênh, rạch dọc ngang để ra tận vùng Đất Mũi thăm nhà bác Ba Pháo (Trần Văn Pháo) tại ấp Khai Long, xã Đất Mũi. Biết có khách phương xa tới thăm, bác Ba gái ngồi đợi sẵn ở phòng khách, niềm nở đón tiếp chúng tôi. Khi được hỏi về những ngày "Chú Chín" sống với gia đình, bác chậm rãi bộc bạch: "Thật ra, hồi trước không phải Chú Chín ở ngôi nhà này với chúng tôi. Ngôi nhà cũ tọa lạc tại ấp Kinh Cò, cách đây chừng 5 cây số. Nhà nằm sát mé biển, do đất bị sạt lở hết nên gia đình mới dời về đây. Hồi đó, thường ngày Chú Chín làm việc tại nhà, khi nào có công chuyện ở ngoài Rạch Gốc thì chồng tôi đưa ông đi. Vào thời điểm trên xung quanh đây là rừng rậm, Chú Chín đòi ra phía sau nhà để ở nhưng chúng tôi thấy bất tiện vì có rất nhiều người thường lui tới để săn bắt thú rừng, không đảm bảo an toàn cho ổng".
Trong thời gian hoạt động tại vùng Đất Mũi, có lúc đ/c Lê Duẩn ra sống ở Hòn Khoai. Hòn Khoai nằm cách mũi Cà Mau khoảng 7 hải lý về hướng Nam. Đảo này có diện tích gần 5km2, ở giữa có ngọn núi cao 318m và có cây đèn biển nổi tiếng. Rừng trên đảo toàn loại gỗ tốt cùng thảm thực vật phong phú. Tại phía Tây có mạch nước suối tự nhiên từ khe núi chảy ra quanh năm không bao giờ cạn. Ở đây, hàng ngày "Chú Chín" tập leo núi và thường xuyên vào rừng hái cây thuốc. Trên đảo này có nhiều cây dược liệu quý như cát căn, sâm nam, hà thủ ô, hoài sơn... Đặc biệt là cát căn, còn gọi là cây sắn dây, được bà con nông dân dùng nhiều trong việc chữa trị bệnh.
Trong vai ông thầy thuốc Nam, đ/c Lê Duẩn đã sử dụng có hiệu quả cây cát căn và một số cây thuốc quý trên đảo này để chữa các chứng bệnh như cảm mạo, chữa sốt ở trẻ em, nhức đầu, lỵ ra máu, thoát nhiệt, giải độc v.v... cho người dân địa phương. Tiếng tăm ông thầy thuốc Nam hiền lành, có tài chữa bệnh và có bộ râu trông giống Bác Hồ, nhanh chóng lan ra khắp vùng, khiến đ/c Bí thư Xứ ủy phải tranh thủ quyết định di dời địa điểm trú đóng nhằm tránh tai mắt của địch.
(CATP) Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, đ/c Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam Lê Duẩn để lại trong lòng Đảng bộ và Nhân dân Nam Bộ những dấu ấn không thể phai mờ. Những người "tâm phục, khẩu phục" tài năng, từng đặt cho ông cái biệt danh "ngọn đèn hai trăm nến" không phải là số đảng viên, cán bộ thuộc thành phần giai cấp công nông. Hầu hết, họ là những nhân sĩ, trí thức nổi tiếng từ thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn ra chiến khu tham gia kháng chiến, vốn xuất thân trong các gia đình danh gia vọng tộc, được du học tại nước Pháp như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt, luật sư Phạm Ngọc Thuần, Albert Phạm Ngọc Thảo, Hội đồng Võ Công Tồn...
TRẦN HỮU PHƯỚC (Cán bộ nghiên cứu của Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ và Văn phòng Trung ương Cục Miền Nam 1952 - 1954)