Người khai sinh nền báo chí ấy cũng đồng thời là nhà báo lỗi lạc. Trong hơn 50 năm cầm bút, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại di sản trên 2.000 bài báo viết bằng nhiều thứ tiếng, với khoảng 150 - 200 bút danh, sáng lập 9 tờ báo Cách mạng.
Trong một thế kỷ đã qua, lời dặn dò của Người - "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ Cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” - vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Nhìn lại hành trình cầm bút của Bác, từ những bài viết của người thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp đến những lời hiệu triệu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt: con chữ phục vụ một mục đích cao cả và chính mục đích cao cả ấy đã tạo nên sức mạnh lan tỏa khắp năm châu.

Trong suốt cuộc hoạt động Cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập 9 tờ báo, trong đó Le Paria là tờ báo đầu tiên - cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa. Ảnh: special.nhandan.vn
Le Paria và ngòi bút làm rung chuyển nước Pháp
Ngày 19/02/1922, tại cuộc họp của Hội Liên hiệp thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đề xuất và được thông qua việc cho ra đời tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Ngày 01/4/1922, số đầu tiên ra mắt với tôn chỉ là "Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa", suốt bốn năm hoạt động báo ra được 38 số. Từ số 1 đến số 14, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách báo, kiêm chủ bút, phát hành và bán báo. Trong điều kiện thiếu thốn ấy, những bài viết của Người trên Le Paria mang một sức mạnh đặc biệt. Cách viết tinh tế, hóm hỉnh ngắn gọn mà sâu sắc, nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng thông tin, sự kiện, số liệu hợp lý tạo tính thuyết phục cao, thấm nhuần tinh thần nhân đạo Cộng sản, gắn chặt với truyền thống nhân văn Việt Nam, được biểu đạt trong việc sử dụng ngôn ngữ báo chí Pháp một cách nhuần nhuyễn. Các bức biếm họa do Người vẽ đăng trên báo Le Paria thể hiện giản dị, nhưng hàm chứa nội dung mạch lạc và sự đả kích hài hước, sâu cay.

Báo Le Paria ra mắt tại Pháp với tôn chỉ là "Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa"
Song song với Le Paria, Nguyễn Ái Quốc còn viết cho LHumanité - cơ quan ngôn luận trung ương của Đảng Cộng sản Pháp. Tại trung tâm lưu trữ của báo này hiện vẫn còn lưu bài "Ở Đông Dương: Vấn đề dân bản xứ" (En Indochine: La question indigène) - được nhiều nhà nghiên cứu xem là một trong những bài báo mang tầm vóc lớn đầu tiên ký tên Nguyễn Ái Quốc - đăng trên số ra ngày 02/8/1919. Đỉnh cao của giai đoạn cầm bút ở phương Tây là tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" (Le Procès de la Colonisation franaise). Đây là tác phẩm chính luận viết bằng tiếng Pháp, tập hợp một số bài viết của Người trong khoảng 1921 - 1924, được xuất bản lần đầu tại Paris năm 1925. Tác phẩm đã thức tỉnh lương tri của những con người yêu tự do, bình đẳng, bác ái, hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và Chủ nghĩa Mác - Lenin.
Báo Thanh Niên và hành trình lập 9 tờ báo Cách mạng
Sau khi rời Pháp, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hành trình làm báo của mình. Từ Quảng Châu, Người chuẩn bị mọi điều kiện để cho ra đời tờ báo Cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Ngày 21/6/1925, Báo Thanh Niên ra số đầu tiên. Đây là tờ báo Cách mạng Việt Nam đầu tiên viết bằng quốc ngữ, được phổ biến rộng khắp cả nước, đặc biệt trong tầng lớp thanh niên, công nhân, nông dân.
Không chỉ là người sáng lập, Nguyễn Ái Quốc còn là cây bút chủ lực của tờ Thanh Niên, viết rất nhiều tin bài, vẽ cả tranh phê bình, châm biếm cho tờ báo dưới nhiều bút danh khác nhau. Nội dung chính trị cơ bản của báo là vạch rõ mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc; khẳng định con đường Cách mạng Việt Nam và truyền bá tư tưởng Cách mạng vào trong nước.
Từ tháng 3/1922 lúc còn ở Pháp đến khi về nước tháng 01/1941, Bác đã sáng lập, trực tiếp tổ chức, biên tập nội dung, trình bày hình thức và phát hành tám tờ báo chủ lực gồm Le Paria, Thanh Niên, Công nông, Lính kách mệnh, Thân ái, Đỏ, Việt Nam độc lập và Cứu quốc. Đầu năm 1941, sau khi về nước trực tiếp lãnh đạo Cách mạng, Người sáng lập báo Việt Nam Độc lập tại lán Khuổi Nặm 2, Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Số đầu tiên Người đánh số 101, với ý nghĩa đây là tờ báo tiếp tục truyền thống của những tờ báo Cách mạng trước đây, ra ngày 01/8/1941. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 02/1951), Bác chỉ đạo thành lập Báo Nhân Dân - cơ quan ngôn luận của Đảng - số đầu tiên ra ngày 11/3/1951.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Báo Thanh Niên, tờ báo Cách mạng đầu tiên của Việt Nam
Sức mạnh hiệu triệu trong từng câu chữ của Bác
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Tác phẩm được Người viết tại nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội.
Mở đầu bản Tuyên ngôn, Bác trích một câu trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Sau đó, Người khéo léo phát triển: "Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Tiếp đó, Người viện dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 và khẳng định: "Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được". Cách lập luận khéo léo mà cương quyết ấy đã đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam vào dòng chảy chung của những giá trị tiến bộ của nhân loại và buộc các cường quốc phương Tây phải đối diện với chính những nguyên lý mà họ đã tuyên xưng.
Hơn một năm sau, khi mọi nỗ lực đàm phán hòa bình đều bị thực dân Pháp khước từ, đêm 19/12/1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Sáng 20/12/1946, từ Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Tây cũ), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi lời hịch ấy. "Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc...", đó là những câu ngắn, mạch nhanh, dùng từ thuần Việt mà ai cũng hiểu. Sức mạnh hiệu triệu của lời hịch nằm chính ở sự giản dị tuyệt đối ấy.

Cuốn sách "Bản án chế độ thực dân Pháp". Ảnh: baotanglichsu.vn
Hai mươi năm sau, ngày 17/7/1966, giữa lúc đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra cả miền Bắc bằng không quân và hải quân, từ Đài Tiếng nói Việt Nam và trên Báo Nhân Dân số 4484 ngày 17/7/1966, lại vang lên một lời hịch khác: "... Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song Nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, Nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".
Trong lời kêu gọi, Người vạch rõ cho toàn thế giới thấy rằng: Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình; sở dĩ Việt Nam phải tiến hành cuộc chiến đấu gian khổ chịu rất nhiều hy sinh cũng vì hòa bình, độc lập tự do của dân tộc mình và của cả loài người.
Chính tính chính nghĩa của cuộc chiến và sự đồng tình ủng hộ rộng lớn của Nhân dân tiến bộ thế giới - được hun đúc qua từng câu chữ trong các lời hịch của Bác - đã tạo nên một sức mạnh tinh thần khiến dân tộc Việt Nam được nhìn nhận là dân tộc tiêu biểu cho lương tri của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX.
Sức mạnh hiệu triệu trong các tác phẩm báo chí của Bác Hồ không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một quan niệm rất rõ ràng và nghiêm khắc về nghề báo. Trước khi đặt bút viết bất kỳ bài báo nào, Bác đều tự đặt ra ba câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào? Người trả lời rõ ràng: Viết cho đại đa số công - nông - binh; viết để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình, phục vụ quần chúng; và viết sao cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc.
Bên cạnh đó, đối với những tác phẩm báo chí hướng tới người đọc là những học giả và chính khách quốc tế, Bác lại viết một cách uyên bác, lập luận khoa học, chặt chẽ, thuyết phục.
Di chúc - tấm gương lao động ngôn từ mẫu mực
Tinh thần trách nhiệm với từng câu chữ của Bác Hồ thể hiện đậm nét nhất trong bản Di chúc - văn bản mà Người viết, sửa chữa và hoàn thiện suốt bốn năm cuối đời, giữa bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn ác liệt nhất. Theo tài liệu lưu tại Cổng Thông tin điện tử Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10/5/1965, Bác đặt bút viết những dòng đầu tiên của tài liệu mang tiêu đề "Tuyệt đối bí mật". Bản Di chúc viết năm 1965 gồm ba trang, do chính Bác đánh máy. Đây là bản Di chúc hoàn chỉnh có chữ ký của Bác và bên cạnh có chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc bấy giờ. Năm 1966, Bác bổ sung thêm phần nói về tự phê bình và phê bình trong Đảng, trong đó nhấn mạnh: "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau". Năm 1967, Bác xem lại bản Di chúc nhưng không sửa gì. Năm 1968, Bác viết bổ sung thêm sáu trang viết tay, trong đó viết lại đoạn mở đầu và đoạn nói "về việc riêng" đã viết trong bản năm 1965, và viết thêm một số đoạn về những công việc cần làm sau khi kháng chiến chống Mỹ thắng lợi. Ngày 10/5/1969, Bác viết lại toàn bộ đoạn mở đầu của Di chúc. Ngày 19/5/1969 - đúng kỷ niệm ngày sinh lần thứ 79 của Bác - Người sửa chữa lần cuối, đọc lại tất cả các bản đã viết trước đó, rồi xếp vào phong bì và cất đi.

Bác Hồ viết bản Di chúc. Ảnh tư liệu của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
Dù được viết trong khoảng thời gian bốn năm nhưng về tổng thể bản Di chúc vẫn là một văn bản nhất quán, mạch lạc và có bố cục chặt chẽ, thể hiện rõ phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh. Việc nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung và viết lại Di chúc không chỉ thể hiện Bác là người rất chu đáo, cầu toàn mà còn cho thấy Người luôn trăn trở, suy nghĩ cho vận mệnh của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân. Mỗi từ, mỗi câu trong Di chúc đều gánh trên mình trách nhiệm với mai sau.
Bài học còn nguyên giá trị sau một thế kỷ
Đã 101 năm trôi qua kể từ ngày Báo Thanh Niên ra số đầu tiên ở Quảng Châu, bối cảnh làm báo đã đổi thay căn bản, từ tờ báo in khổ nhỏ phải nhờ thủy thủ bí mật chuyển về nước, đến hệ sinh thái báo chí - truyền thông số với hàng nghìn ấn phẩm, hàng vạn nhà báo. Nhưng những câu hỏi mà Bác đặt ra: "Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?" vẫn còn nguyên giá trị thời sự cho người làm báo hôm nay.
Sức mạnh của ngòi bút Bác Hồ không nằm ở ngôn từ hoa mỹ hay sự phức tạp về câu chữ, mà nó nằm ở mục đích cao cả - giải phóng dân tộc, giải phóng những con người bị áp bức - và ở sự nghiêm khắc tuyệt đối với chính mình trong từng câu chữ. Từ bài báo đầu tiên trên LHumanité năm 1919 đến những dòng sửa cuối cùng của Di chúc lúc 10 giờ sáng ngày 19/5/1969, có một chuẩn mực không đổi: con chữ phải xứng đáng với trách nhiệm mà nó gánh vác.
Nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, mỗi người cầm bút hôm nay - dù viết trên báo in, báo điện tử, hay sản xuất nội dung trên các nền tảng số - đều có thể tìm thấy trong di sản báo chí của Bác Hồ một tấm gương soi cho mình. Tấm gương ấy không xa lạ, không khó tiếp cận mà nằm ngay trong câu nói giản dị mà Bác đã căn dặn: "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ Cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.
Đại tá, PGS.TS BÙI NGỌC GIÁP